Showing posts with label Đền Chùa Tháp. Show all posts
Showing posts with label Đền Chùa Tháp. Show all posts

Friday, March 25, 2016

Chùa Bà Thiên Hậu (Bình Dương)

Là một di tích văn hóa của tỉnh Bình Dương. Miếu bà Thiên Hậu “Thiên Hậu Cung” thường được người dân quen gọi là chùa Bà có kiến trúc theo lối cổ, là nơi thờ tự tôn nghiêm, một điểm hành hương rất quen thuộc của người dân Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận.
Chùa Bà hiện nay tọa lạc tại số 4, đường Nguyễn Du, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương và một ngôi chùa Bà mới được khánh thành vào tháng 1/2013 ở trung tâm thành phố mới Bình Dương. Tuy nhiên, khi nhắc đến chùa Bà ở Bình Dương, người ta thường nghĩ ngay đến chùa Bà ở thành phố Thủ Dầu Một.

Chùa Bà Thiên Hậu (thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương).
Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu
Theo truyền thuyết được ghi ở tấm bia đá đặt ở chùa, Bà sinh vào thời Tống Kiến Long nguyên niên (Công nguyên 960), là con thứ 6 của gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi mới lọt lòng mẹ, Bà đã toả ánh hào quang và hương thơm. Lớn lên, Bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển và du ngoạn nhiều nơi. Đến đời Tống Ung Hy tứ niên (Công nguyên 987), năm 27 tuổi Bà từ giã cõi trần và hiển linh. Đời Nguyên, Bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh, vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu. Và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại cho đến nay.
Từ truyền thuyết dân gian đã chuyển hoá thành tín ngưỡng và Bà được những thế hệ sau hương khói, phụng thờ ở nhiều nơi. So những điều ghi ở bia đá nói trên với một số truyền thuyết về Bà ở các chùa khác thì có ít nhiều khác biệt, nhưng nhìn chung họ đều ca ngợi suy tôn Bà là một người phụ nữ đức hạnh, hiếu thảo, xả thân cứu người đời và khi chết hiển linh, được các triều đại phong kiến Trung Quốc phong tặng. Đề cao Bà Thiên Hậu, ngưỡng mộ và phụng thờ Bà như một vị hiển thánh, bà con người Hoa muốn thông qua tấm gương của Bà mà giáo dục cộng đồng của mình hãy học tập lòng hiếu thuận, đức nhân hậu của Bà, sống có đạo nghĩa. Mặt khác, trên con đường vượt sóng gió biển khơi, đi về hướng Nam tìm đất lập nghiệp đầy gian truân, họ luôn cầu nguyện Bà giúp đỡ, phù hộ và sau khi đã định cư, ổn định đời sống, sum họp đông vui, làm ăn phát đạt trên đất Việt Nam, quê hương thứ hai của họ, họ cùng nhau lập đền thờ để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Bà.
Lịch sự hình thành chùa.
Chùa được xây dựng vào khoảng giữa thế kỉ XIX, lúc đầu chùa tọa lạc tại con rạch Hương Chủ Hiếu (nay đã xây dựng lại ngôi miếu trên vị trí ban đầu của xưa kia). Người xưa đã chịu ảnh hưởng của quan niệm dân gian là địa thế xây cất miếu Bà thường tuân theo nguyên tắc kiến trúc điện mẫu, tức là luôn mang yếu tính nữ trong xây cất, một trong yếu tố nữ là điện thờ nên chọn nơi gần sông, suối, ao, hồ… nghĩa là gần nơi có nước, vì nước mang yếu tố âm, mang tính nữ.
Đến năm 1923, bốn Bang người Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ) chung sức tái tạo, dời ngôi chùa về vị trí như ngày nay.
Về kiến trúc, thờ tự, trang trí, nội thất.
Toàn bộ ngôi chùa kiến trúc theo kiểu chữ tam gồm ba dãy nhà.
Vào sân chùa, trước cửa chánh điện có đặt một cái đỉnh lớn để những người đến chiêm bái cắm nhang.
Mái trước cửa chánh điện lợp ngói âm dương với những đường chỉ đắp nổi, trang trí lưỡng long tranh châu, cá chép hóa rồng. Hai bên đường viền của mái nhà là tượng “bà Mặt trăng”, những tượng quan văn, quan võ… tiêu biểu nhất lí âm dương và cũng là đặc trưng của lối kiến trúc người Hoa.
Ở giữa,  phía bên trên cửa chánh điện đề ba chữ "Thiên Hậu Cung, hai bên cửa là hai cặp câu đối ca ngợi công đức của Bà:
             Cặp câu đối thứ nhất:
Thánh đức phối thiên hải đức từ hành phổ tế
Mẫu nghi xưng hậu tang du trở đậu trùng quang.
Tạm dịch: Công đức của bậc thánh có thể sánh với trời, đức mênh mông như biển thuyền từ cứu vớt khắp cùng.
             Cặp câu đối thứ hai:
Thiên thượng từ hành nhân gian thánh mẫu
Hậu nghị cộng ngưỡng khôn đức trường tồn.
Tạm dịch: Tại thượng giới hiệu là từ hàng, tại nhân gian tồn là thánh mẫu. Bậc hậu oai nghi ai cũng tôn kính, đức dày mãi mãi với thời gian.
Trong chánh điện có treo nhiều cặp đối, nội dung các cặp đối là ngợi ca công đức và sự linh diệu của Bà trong việc cứu nhân độ thế, hơn nữa bà là vị nữ thần phò hộ cho người dân đi biển nên hầu hết các cặp đối đều có nhắc đến những hình ảnh có liên quan đến biển khơi và sự mong ước được sóng yên, bể lặng.
Tại chánh cung, thờ vị chánh thần là Thiên Hậu Thánh Mẫu, tượng có áo mão nghiêm trang và thường được thay mới hàng năm, hoặc hai, ba năm một lần. Bên trái điện thờ Bà là khám thờ Ngũ hành nương nương. Bên phải thờ Bổn, gọi là bổn đầu công công.

Bàn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Hai bên tường có giá cắm tấm biển đề Túc Tĩnh - Hồi Tị, để kêu gọi mọi người nghiêm trang hoặc tránh ra mỗi khi có rước kiệu Bà đi trên đường. Cặp biển thứ hai đề Thiên Hậu Nguyên Quân (vị thần chủ việc tiền tài). Các cặp biển sắp theo thứ tự trong thờ tự cũng như trong diễu hành lễ rước bà. 
Trong điện còn có trưng bày giá cắm bát bửu là tám món bửu bối của tám vị tiên theo truyền thuyết của người Trung Hoa.
Hai dãy nhà hai bên chính điện có đề ở cửa cái chữ "Thất phủ, công sở", là nơi làm việc, hội họp và những kho chứa đồ đạc. Do vậy, mà bên trong phía bên phải ghi những chữ như: "Hữu thông" (đi suốt qua bên mặc), “Sự chi, Công lý” (mọi việc theo lẽ công). Bên trái ghi: “Dĩ lễ, Thủ chánh” (hãy theo lễ, giữ gìn cái chính), “Quảng nội” (rộng rãi bên trong), những chữ vắn tắt ấy như những khẩu hiệu nhắc nhở mọi người.
Nhìn chung, ngoài những lối kiến trúc, thờ phượng, những chùa miếu người Hoa còn có những nét đặc trưng nữa là những cây nhang vòng và lồng đèn có viết chữ Hán được treo rất nhiều.

Lễ hội chùa Bà được xem là một lễ hội văn hóa lớn nhất ở tỉnh Bình Dương,được tổ chức thường lệ mỗi năm vào 3 ngày từ ngày 13 đến ngày 15/1 âm lịch với nhiều chương trình lễ hội đặc sắc: lễ cúng Bà, đấu giá lồng đèn, rước kiệu Bà,…

Wednesday, March 16, 2016

Đình Tiên Thủy (Bến Tre)


Đình Tiên Thủy tọa lạc tại ấp Khánh Hội Đông, xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, cách trung tâm thành phố Bến Tre khoảng 20km về hướng Đông Nam có tổng diện tích là 11.587m2, diện tích xây dựng là 835,18m2.Đình có cấu trúc theo hình chữ Sơn với các gian kiến trúc: võ ca, võ quy và chính điện được xây liền nhau.

Phía sau là nhà chỉnh y, nhà bếp và nhà tiệc. Phía trước có bức bình phong và 4 ngôi miếu: miếu Ông Hổ, miếu Ngũ Hành, miếu Thổ Thần, miếu Bà Chúa Xứ và bàn thờ Thần Nông.
Đình thờ 4 vị thần với 4 sắc phong gồm:  Cao Các Quảng Độ tôn thần, Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, Bổn Cảnh Thành Hoàng, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải và được an vị vào ngày 11 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852). Từ đó đến nay, cứ đến ngày này thì tất cả dân làng tập họp lại làm lễ cúng rất long trọng.



Đình chính gồm các nóc: võ ca, võ quy và chính điện với kiến trúc chung là nhà xuyên trính, 3 gian, hai chái. Các cây cột gỗ đứng song song nhau, được gắn kết với nhau từng cặp theo chiều ngang bởi các cây trính và theo chiều dọc mỗi hàng có một thanh gỗ dài xuyên qua 4 cây cột. Trên giữa mỗi cây trính là cây trổng có cối (khối gỗ hình vuông ở chân) và áp quả hình tam giác để chống đỡ đầu 2 cây kèo và đòn dông. Các nóc nối liền nhau tạo thành một thể thống nhất. Mái đình lợp ngói âm dương.


Đình có tất cả 42 cột được làm bằng gỗ căm xe và gỗ lim có chu vi từ 90 đến 100 cm. Nền chính điện lót gạch bông, xung quanh kè gạch thẻ, cao hơn 5 tấc so với tổng thể toàn bộ đình. Các gian còn lại lót gạch tàu. Cột, kèo, đòn tay được kết dính với nhau bằng kỹ thuật mộng chốt, đầu kèo chạm hoa văn trang trí sống động, sắc sảo. Toàn bộ đình được kè gạch thẻ xung quanh, cao hơn sân đình 6 tấc. Nóc đình trang trí long mã hà đồ, long ẩn vân, lưỡng long tranh châu, cá hóa long, cừu, song đăng, rồng,...

Đặc biệt, trên nóc đình chính có một tháp trang trí 4 tranh phong cảnh 4 mặt, nóc trang trí hoa văn đắp nổi, 2 góc tháp đắp nổi 2 đầu rồng quay ra 2 phía. Trung tâm đình là phần chính điện với kiến trúc 3 gian, 2 chái bát dần theo kiểu tứ trụ được trang trí nhiều hoành phi, câu đối, bao lam, thành vọng bằng gỗ rất có giá trị. Các hoa văn, đồ án trang trí của đình đều do một nhóm thợ lành nghề từ miền Trung vào. Sự tài hoa của người thợ thể hiện qua các hình thức trang trí từ chạm nổi, chạm lộng, chạm khắc đến cẩn ốc xà cừ rồi sơn son thếp vàng rực rỡ.

Đáng chú ý nhất là ngay cửa chính vào gian chính điện, đình còn lưu giữ một hoành phi chữ Hán, trang trí hoa lá xung quanh bằng ốc xà cừ với nội dung cũng được cẩn ốc: Tiên Thủy linh miếu (ngôi miếu linh Tiên Thủy) với dòng lạc khoản bên phải là Thành Thái Bính Thân thu (dịch là năm Bính Thân, đời vua Thành Thái, mùa thu tức là hoành phi này được tạo vào mùa thu năm 1896).

Đến năm 1928 (Đinh Mão), đình được trùng tu khang trang do ông Tạ Khắc Dệt đứng ra vận động nhân dân trong vùng đóng góp sức người, sức của. Bởi thế, đình còn lưu giữ nhiểu hoành phi, câu đối, bao lam, thành vọng ghi năm Đinh Mão do nhân dân trong vùng hiến cúng cho đình. Cổng chính của đình hướng Đông Bắc, đình hướng về chánh Đông (sông Tiên Thủy). Hiện tại vẫn còn một cầu dẫn ở sông Tiên Thủy hướng về ngay cổng đình dùng để thả hoa đăng trong mỗi dịp cúng Kỳ yên hàng năm.

Ông Trần Văn Giác, Chánh tế đình Tiên Thủy cho biết: Ngôi đình có lịch sử hàng trăm năm tuổi này đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được nét cổ kính, tinh xảo của kiến trúc xưa. Lần gần nhất ngôi đình được trùng tu là vào năm 1928 và giữ nguyên diện mạo cho đến hôm nay. Ngôi đình có diện tích gần 2.500m2, nằm trong khuôn viên rộng gần 2 ha.



Tương truyền vào năm 1778, Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn và đã đến nơi này. Ông thấy nước sông ở đây trong veo lại có vị ngọt lành lạ thường nên đặt tên sông là Tiên Thủy (nước tiên). Các bô lão trong làng sau đó họp lại và quyết định dựng lên một ngôi đình bằng cây lá đơn sơ tại vị trí Nguyễn Ánh từng trú chân. Đến năm 1852, vua Tự Đức ban sắc phong cho đình vào ngày 11/11. Từ đó đến nay, ngày 10-12/11 Âm lịch hàng năm được chọn làm lễ hội kỳ yên đình Tiên Thủy.


Ông Trần Duy Đăng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Thủy cho biết, lễ hội kỳ yên được tổ chức hàng năm là tín ngưỡng lâu đời của nhân dân trong vùng. Mục đích của lễ hội là cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, mùa màng thuận lợi. Mỗi năm, có hàng ngàn lượt người tham dự và đây là lễ hội truyền thống có quy mô lớn nhất nhì cả vùng.

Tọa lạc ở xứ sở cây lành trái ngọt, cổng đình Tiên Thủy hướng ra sông Đông (tên gọi khác của sông Tiên Thủy). Ngôi đình này nổi tiếng linh thiêng và gắn liền với nhiều giai thoại. Hàng trăm nay nay, đây là chỗ dựa tâm linh vừa thiêng liêng vừa gần gũi đối với người dân địa phương. Đây cũng là nơi nhiều con xa xứ hướng về.



Hàng năm, đình có các lễ cúng: ngày 7 tháng Giêng là lễ Khai sơn; 13 tháng Giêng là lễ cúng Quan Thánh (Quan Công); mùng 10 tháng 3 là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương; 11 tháng 4 là lễ Hạ điền; mùng 10, 11, 12  tháng 11 là lễ Kỳ yên; ngày 11 tháng 12 là lễ Thượng điền. Đặc biệt, lễ Kỳ yên có tổ chức hát bội và du thần.


Đình còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc gỗ độc đáo và các văn bản chữ Hán trên sắc phong, bao lam, liễn đối, hoành phi, khánh thờ,…
Dù trải qua thời gian hơn 150 năm nhưng ngôi đình vẫn còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, thời gian và ảnh hưởng của môi trường đã làm cho đình Tiên Thủy bị hư hỏng nhiều chỗ. Hiện tại đình còn lưu giữ 14 hoành phi, 03 liễn áp cột, 02 hương án, 06 bao lam, 04 khánh thờ, 04 sắc phong cùng nhiều liễn đối, bài vị,… rất có giá trị.

Ngày 20/8/2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Quyết định số   2836/QĐ-BVHTTDL công nhận đình Tiên Thủy (xã Tiên Thuỷ, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Khu vực bảo vệ di tích đươc xác định theo biên bản và bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ.

Chùa Tuyên Linh (Mỏ Cày-Bến Tre)


Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tôn cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do Hòa Thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn Nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sỹ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh. Dulichgo

Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1962, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh – đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc  tại chùa Tuyên Linh một thời Gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930). Dulichgo

Khi Cách mạng tháng tám 1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết minh không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặc về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.



Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo tháp) tại chùa Tuyên Linh.


Thời kháng chiến chống Pháp, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng Khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương – Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh, vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.
Chùa được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Du lịch, GO!

Tuesday, March 15, 2016

Đền Thắm (Bắc Kạn)


Đền Thắm thuộc vùng đất Chợ Mới - Cây Thị (nay là thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn) từ lâu đã trở thành địa chỉ du lịch tâm linh của hàng vạn lượt du khách trong và ngoài tỉnh mỗi năm trong hành trình "tĩnh tâm về với cội nguồn", nhất là dịp đầu xuân mới.

Đền Thắm là khu di tích lịch sử - văn hóa - danh lam thắng cảnh có bề dày lịch sử được phật tử, nhân dân và du khách thập phương ngưỡng mộ. Nằm cách thị xã Bắc Kạn gần 40 km về hướng nam, trong không gian thơ mộng, phía trước đền là dòng sông Cầu nước trong xanh, hiền hòa uốn lượn, sau đền là vách đá sừng sững của dãy Thông Khuông uy nghi.

Những năm gần đây, đền là điểm đến thu hút du khách thập phương đông nhất, nằm trong chuỗi du lịch tâm linh từ huyện Chợ Mới lên thị xã Bắc Kạn với điểm đến đầu tiên là Đền Thắm, chùa Thạch Long, đền Thác Riềng (thuộc huyện Chợ Mới) rồi đến đền Cô, đền Mẫu (thuộc thị xã Bắc Kạn).



Đền Thắm tương truyền là ngôi đền linh thiêng, thờ nữ tướng tên Thắm, một cô gái miền sơn cước xinh đẹp, giàu lòng nhân ái, dũng cảm đứng lên chống giặc.

Cô Thắm có cha làm nghề chài lưới bên sông Cầu. Càng lớn cô Thắm càng xinh đẹp, nết na, chính vì thế tên chúa Mường đã dùng quyền lực ép cô về làm vợ. Không cam chịu cay đắng và tủi nhục với tên chúa Mường tàn nhẫn, tham lam. Nhất là khi tên chúa Mường làm tay sai cho giặc tàn sát dân lành. Cô Thắm đã rời bỏ nhà chúa Mường, tập hợp dân nghèo đứng dậy đánh giặc. Cô Thắm đã chỉ huy đội quân nông dân của mình đánh tan giặc, nhưng chính cô đã bị trúng tên độc của giặc, hy sinh. Để tưởng nhớ nữ tướng dũng cảm, thương yêu người nghèo, người dân Chợ Mới đã lập đền thờ cô Thắm trên nền nhà của bố con cô.



Theo ghi chép của địa phương, đền được xây dựng đơn sơ từ rất lâu, sau đó vào khoảng năm 1929-1930, nhà buôn gỗ Nguyễn Cả Mùi, sau một lần bị mưa lũ làm vỡ mảng, trôi bè, tưởng không thể tìm lại được nhưng khi bè gỗ đến trước đền Thắm thì được cản lại. Như có điềm báo về một sự linh thiêng, một sự cứu giúp của cứu thế. Thấy đền thiêng, lại ở nơi sơn thủy hữu tình, ông đã bỏ tiền của của mình, đồng thời quyên góp của người dân địa phương để xây dựng đền Thắm bây giờ. Cứ vào dịp Tết, lễ, ngày rằm, mùng một, người đến Đền nhộn nhịp, vừa để thắp hương tưởng nhớ một cô Thắm nhân từ, một nữ tướng dũng cảm, cũng là để tận hưởng khung cảnh hữu tình, không khí trong lành của chốn bồng lai miền sơn cước. Cô Thắm đã đi vào cõi tâm linh các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao... quần cư tại khu vực này.



Trải qua thời gian, qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đền Thắm từng chứng kiến những thăng trầm của lịch sử, khi là trạm gác tiền tiêu của các cơ sở quân sự, khi được dùng làm văn phòng của Ủy ban Kháng chiến Chợ Mới. Kiến trúc của đền đã có một vài lần được trùng tu, nhưng vẫn giữ vẻ nguyên thủy đến ngày nay, thể hiện sự uy nghi và trang nghiêm nhưng không quá cầu kỳ, gồm: Đền Mẫu, đền Cô và khu vực thờ Phật.

Đền Thắm có 4 ngày lễ chính là Lễ Thượng nguyên (2/2 âm lịch) là lễ hội lớn nhất hằng năm; lễ vào hè (10/3 âm lịch); lễ ra hè (10/7 âm lịch). Hằng năm vào 20/2 (âm lịch) thường có vấn hầu đặc biệt.

Du lịch, GO! - Theo báo Tintuc, internet

Chùa Thạch Long (Bắc Kạn)


Chùa Thạch Long (Rồng đá) thuộc xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây được mệnh danh là “chùa thiêng trong hang đá”. Ngôi chùa chứa trong mình nhiều sự tích, huyền sử đẹp.
Chùa Thạch Long thu hút hàng ngàn khách thập phương tới dự hội và dâng hương cầu phúc, cầu tài mỗi dịp xuân về. Nhiều người nói rằng, đi khắp Bắc chí Nam chưa thấy chùa nào nằm trong hang núi đá rộng, sạch mà thoáng như chùa Thạch Long. Tăng ni Phật tử tới dự hội có thể vào hang lễ Phật tới hàng ngàn người.



< Đường lên chùa.

Chuyện kể rằng, ngày xưa, người dân xã Vi Hương - Bạch Thông xuôi dòng sông Cầu rước tượng Phật Thích Ca về thờ ở làng mình là Hoa Sơn, trên đỉnh dãy núi Phja Bjoóc.

Tượng Phật bằng vàng rất nặng nên khi ngược lên Vi Hương phải kéo bằng mảng. Đến vằng Bó Mi thuộc xã Cao Kỳ ngày nay, mảng cứ xoay tròn không sao đi được. Trời đã tối, đêm ấy, người đi rước tượng phải căng lều ngủ tại vằng Bó Mi để hôm sau tính tiếp.



< Chùa Thạch Long nằm trong lòng núi đá.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, họ hốt hoảng không thấy Đức Phật đâu. Người đi rước tượng đành thắp một bó nhang to và khấn: “Nếu ngài muốn ở đây thì con đành thuận theo ý ngài, nhưng ngài hãy cho con biết nơi ngài đang thượng tọa để con cháu đời sau thờ phụng hương khói”. Dứt lời, bó nhang cuộn khói bay sang bên kia bờ sông, luồn mãi vào trong núi. Người rước tượng cứ đi theo khói nhang ấy và phát hiện ra một hang động tuyệt đẹp, rộng thênh thang. Đức Phật Thích Ca đã ngự tọa ở chốn cao nhất.

Biết hang đá thiêng, từ đó dân làng lập chùa ngay tại hang đá này. Chùa có tên Thạch Long (con rồng đá) là vì hang động nằm trong núi đá, cổng hang có hình miệng con rồng đang há.



< Một góc phía trong chùa.

Chùa có hai phần chính. Phần thứ nhất là chùa Thiên. Chùa này nằm ở trên cao, có một bậc đá xếp từ chân núi dẫn thẳng lên tới cửa động. Gian cao nhất thờ Đức Phật Thích Ca. Ở gian trung, trên bệ cao nhất có ảnh thờ Bác Hồ.



Phần thứ hai của chùa là chùa Âm, đường đến chùa Âm phải đi vòng quanh sườn núi. Cửa vào chùa Âm hẹp hơn chùa Thiên một chút. Lòng hang cũng không rộng bằng chùa Thiên. Ước chừng cao khoảng 6m, rộng 6m và có ngách ăn sâu vào bên trong.

Cả chùa Thiên và chùa Âm đều có nhiều tượng thiên tạo hình các Chư Phật. Trong lòng chùa Thiên, vách đá tự chia thành từng múi như những chiếc lọng cao và sang trọng che cho các vị Chư Phật ngồi dưới.



Không chỉ chứa trong mình nhiều huyền tích, chùa Thạch Long còn là một di tích lịch sử, là niềm tự hào của bà con xã Cao Kỳ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã 3 lần đến đây. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chùa trở thành trạm vận chuyển vũ khí và là kho vũ khí bí mật của quân đội ta. Hoà bình lập lại, chùa lại được bà con thờ tự như xưa.



< Hội chùa Thạch Long được tổ chức hàng năm.

Hội chùa Thạch Long được tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng hằng năm, thu hút rất nhiều du khách thập phương, họ đến để dâng hương cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và người thân.

Chùa Thạch Long không những là thắng cảnh đẹp của Bắc Kạn, mà còn là một di tích lịch sử. Di tích này đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, bảo vệ, tôn tạo để trở thành điểm du lịch văn hoá hấp dẫn của tỉnh Bắc Kạn.

Theo Vũ Thuý (Cổng TTĐT Bắc Kạn) + Ảnh internet
Du lịch, GO!

Thursday, November 19, 2015

Bát Cảnh Sơn (Hà Nam)

Với hình sông thế núi ấy cùng với hệ thống đền, chùa cổ kính uy nghiêm, nơi đây từ xưa được coi là một thắng cảnh của trấn Sơn Nam.Theo Lịch triều hiến chương loại chí (phần Dư địa chí) của Phan Huy Chú thì vào thế kỷ thứ 16, Nghị tổ Trịnh Doanh qua đây chiêm ngưỡng đã ví Bát cảnh sơn với Tiêu Tương bên Trung Quốc và cho lập hành cung để đi về thưởng ngoạn.
Xưa kia, ở Bát cảnh sơn có 8 ngôi chùa và một ngôi miếu thờ thổ đại thần linh được bài trí xây dựng theo thuyết bát quái ngũ hành, cũng từ đó cái tên Bát Cảnh Sơn đã được đặt cho nơi đây. 

Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là do thời gian và chiến tranh tàn phá, thắng cảnh Bát Cảnh Sơn đã bị phá hoại đi rất nhiều. Trong số 8 ngôi chùa, miếu thờ chỉ còn lại 3 ngôi chùa còn nguyên vẹn, đó là đền tiên ông và chùa Tam Giáo, chùa Ông.
Cảnh quan hồ nước trước chùa Ông.
Xét theo tổng thể ở phạm vi rộng thì Bát cảnh sơn là một cụm du lịch của quần thể Hương Sơn bởi hai thắng cảnh này rất gần gũi, tiếp giáp với nhau liền mạch trong dãy núi đá vôi Hà Nam - Hà Tây cũ. Theo vị trí địa lý hành chính, Bát cảnh sơn là "tiểu thắng cảnh", là cửa ngõ Hương Sơn, nằm trong xã Tượng Linh, nơi ngã ba của 3 huyện Kim Bảng (Hà Nam), Mỹ Đức, Ứng Hoà (Hà Tây cũ).
Trong quần thể ấy, nổi bật là đền Tiên Ông nằm trên núi Tượng Lĩnh. Đi qua 150 bậc đá cao chừng 100 m, ngôi đền uy nghi, nằm sững sừng trên lưng chừng núi sẽ hiện ra trước mắt. Nhiều tao nhân mặc khách đến đây muốn giải thoát khỏi trần tục, để rồi yêu luôn chốn này. Nhiều bài thơ, tựa đề đã được khắc lên những cánh cửa ca tụng vẻ đẹp và cõi thiêng của đền. Trong khuôn viên của đền có nhiều thần phả, sắc phong quý hiếm cũng như những hoành phi, đại tự, câu đối có từ xa xưa. Ngôi đền được chia thành 5 gian nhà khách, 3 gian thờ tổ. Đứng trên đây có thể bao quát được toàn bộ xã Tượng Lĩnh đang từng ngày thay da đổi thịt, với những cánh đồng thẳng cánh cò bay và hàng loạt ngôi nhà khang trang mọc lên san sát.
Hình ảnh toàn bộ những ngọn núi quanh xã Tượng Lĩnh (hình ảnh được chụp từ vị trí chùa Kiêu). 
Ngay dưới chân của đền Tiên Ông là chùa Ông, trước kia chùa rất rộng nhưng đến nay đã bị thu hẹp đáng kể do thiên nhiên và chiến tranh. Phía trước chùa là một hồ rộng, mỗi khi hoàng hôn buông, nơi đây đẹp như tranh thủy mặc. Trong bức tranh đó có, núi, sông hòa quyện với con người.
Cách chùa Ông chừng 1 km, men theo sườn núi là đến chùa Tam Giáo. Chùa khi xưa có hàng trăm pho tượng phật uy nghi tráng lệ. Ở đây còn có một dòng nước từ trong núi chảy ra. Xung quanh chùa Tam Giáo có rất nhiều hang động đẹp, nhiều nhũ đá với các con vật khác nhau. Cho đến nay, trong quần thể Bát Cảnh Sơn, chùa Tam Giáo là địa điểm thu hút khách du lịch nhiều nhất. Hàng ngày tiếng mõ vẫn vang lên, chốn uy nghiêm Tượng Lĩnh vì thế trở nên linh thiêng.
Cách chùa Ông chừng 1 km, men theo sườn núi là đến chùa Tam Giáo. Một số ngôi miếu, chùa khác như chùa Chùa Bà, chùa Bông, chùa Dâu đến nay không còn dấu vết.
Một số ngôi miếu, chùa khác bị phá hủy phải kể đến như: Chùa kiêu, chùa bà, chùa dâu, chùa vân mộng, chùa bông. Trong đó chùa Kiêu đang trong quá trình xây dựng, chùa Kiêu nằm trên đỉnh núi phía nam xã Tượng Lĩnh, có độ cao chừng 200 m. Đường lên chùa Kiêu cây cỏ um tùm, nhưng con người sẽ tìm được cảm giác thanh thản, khi lên đến đỉnh chùa. Hiện ở đây đã lập am hương, tưởng nhớ các vị anh thần ngày xưa. Những vết tích còn lại của chùa Kiêu phải kể tới như, một nền móng và một động rộng 10 m2. Ngay trước động có ghi: Nhật Nguyệt Trường Quang, tục truyền ngày xưa cứ đêm trăng sáng, Tiên Ông cùng ngồi đánh cờ với các quan nhà trời ở đây.
Từ chùa Kiêu, vượt qua đường đèo và những sườn núi cheo leo là đến chùa Vân Mộng, tương truyền chùa Vân Mông là nơi mà Thiền sư Nguyễn Minh Không đã từng tu hành và trụ trì. Tục truyền, vua nhà Lý bị đau mắt không phương thuốc nào chữa được. Nhà Vua nghe tin tại chùa Vân Mộng có Quỷ Cốc tiên sinh thông tuệ thiên địa bèn đến cầu, quỷ cốc tiên sinh cho rằng nhà vua đau mắt là do động huyệt xoáy rồng ở khúc sông Hồng, cần có người hiến tế thì nhà vua mới khỏi bệnh. Sau có ông bà bán dầu Vũ Phục nhảy xuống sông, quả nhiên nhà vua lành mắt.  Ngôi chùa cũng đã đi vào sách vở với ghi chép của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ.

Wednesday, November 18, 2015

Chùa Trinh Tiết và những bí ẩn (Hà Nam)

Ban quản lý di tích tỉnh Hà Nam hiện đang  lưu giữ cuốn Ngọc phả Bạch Hoa công chúa chùa Trinh Sơn triều Trần, cuốn sách này do Tiến sĩ Lê Tung soạn ngày 2 tháng 5 năm Hồng Đức thứ 21 (1490), được các nhà nghiên cứu văn hóa tìm thấy ở chùa Trinh Tiết. Theo cuốn Ngọc phả, công chúa Bạch Hoa sinh năm Nhâm Tuất (1382), là con gái của Chiêu Định Vương (tức vua Thuận Tông nhà Trần) và thứ phi Diệu Hiền.  Một lần, thầy tướng Tựu Hòa là bạn của Chiêu Định Vương đến chơi, nói rằng hậu vận của Vương sẽ gặp họa, khuyên Vương nên thay tên đổi họ, rời bỏ triều đình để đi buôn, còn cô gái Bạch Hoa thì nên cho vào chùa nhờ Phật độ mới yên thân được. Chiêu Định Vương không cho là phải, nhưng vẫn đưa 10 lạng vàng biếu tặng. Tựu Hòa không nhận, nói: Tôi đã đủ ăn mặc, không cần vàng bạc, chỉ tiếc lời khuyên Vương chẳng khác gì nước đổ lá khoai. Rồi từ đó Tựu Hòa không qua lại thăm Chiêu Định Vương nữa
 Công chúa Bạch Hoa rất hiếu học, thông làu các sách kim cổ. Khi Chiêu Định Vương lên ngôi vua năm 1388, Bạch Hoa tuy còn nhỏ nhưng đã từng khuyên cha nhiều việc: giảm nhẹ thuế nông tang, khuyến dân cày cấy, đặt các trạm tuần kiểm thu thuế buôn bán, kén người hiền tài giúp nước. Năm 1397, quyền thần Hồ Quý Ly thâu tóm quyền binh trong triều ngoài lộ, ép vua Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Tháng 3 năm Mậu Dần (1398), Hồ Quý Ly bắt Vương đang ở ngôi vua đi tu tại cung Bảo Thanh, nhường lại ngai vàng cho con là Trần Án khi ấy mới 3 tuổi. Không lâu sau đó, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, rồi truy sát những người trong tông tộc họ Trần.
chuatrinhtiet-1.gif
Tòa chính tẩm chùa Trinh Tiết
Bấy giờ công chúa Bạch Hoa 16 tuổi, vô cùng xinh đẹp. Sợ rằng tính mệnh của nàng sẽ bị họ Hồ làm hại, Tựu Hòa đã sai Bằng Cử là một người nhân từ và trung thực, bí mật đưa Bạch Hoa lên thuyền chạy về Kẽm Trống. Bằng Cử hộ tống công chúa tới ngọn Bổ Đà nằm kề bên sông Đáy, để nàng ẩn tích trên một am chùa nhỏ thờ Phật, và đưa cho nàng một ít bạc vụn phòng khi cần dùng đến. Am chùa nhỏ này có tên là Diên Bình tự, đã bỏ hoang nhiều năm ngói xô rêu phủ, quanh năm chẳng có ai ghé qua. Bằng Cử để lại một chiếc thuyền con cho công chúa có phương tiện sang sông, tiện hỏi công chúa pháp danh là gì? Bạch Hoa đáp: Thu Thu. Bằng Cử dặn dò công chúa phải mai danh ẩn tích thật kín để không bị triều đình nhà Hồ tìm thấy và sát hại.
 Tương truyền, công chúa Bạch Hoa ở trên núi Bổ Đà, ăn cơm gạo đỏ, uống nước hạt bách hoa cúc. Đêm ngày, công chúa tụng kinh niệm Phật cầu cho mọi người chung sống yên vui trong cảnh thanh bình, gió thuận mưa hòa, mùa màng tươi tốt. Năm sau (1399), công chúa nhận một cô gái 6 tuổi, người Sơn Trà bên kia sông Đáy, tên là Nguyễn Thị Giáp làm đệ tử, đặt pháp danh là Tuệ Hoa. Công chúa Bạch Hoa thường xuyên chèo thuyền sang thăm bên hữu sông Đáy, vào rừng leo núi hái lá cây làm thuốc, chữa bệnh cho người nghèo khó, nên dần dần nhiều người qua lại thăm, về sau được dân cư sở tại thương mến. Ở núi Bổ Đà những lúc rỗi rãi, công chúa Bạch Hoa thường đến một ngọn núi không tên gần đó, ngắm nhìn phong cảnh trời nước mênh mang của Kẽm Trống, làm thơ vịnh cảnh. Đệ tử Tuệ Hoa hỏi thì công chúa nói: Ta ra đây nghỉ ngơi, viết tập “Cô ai trường hận”. Tuy công chúa chưa từng đọc “Cô ai trường hận” cho bất kỳ ai nghe, nhưng từ đó về sau, dân chúng gọi ngọn núi không tên này là núi Cô Ai.

chuatrinhtiet-2.gif
Cổng chùa Trinh Tiết dưới chân núi Trinh Sơn
 Một tối năm Giáp Tuất (1454) niên hiệu Diên Ninh thời nhà Lê, sư nữ Thu Thu lên chùa khua mõ tụng kinh xong thì gục xuống không dậy nữa, hôm đó là mùng 6 tháng 8. Đồ đệ Tuệ Hoa an táng theo di chúc của sư tại một chỗ đất bằng trên núi Cô Ai. Cùng năm đó, nhân dân sở tại gom tiền tạc tượng Thu Thu bằng đá, đặt thờ ở án hương, bên dưới tượng Phật. Sau khi tổ Thu Thu mất, dân chúng quanh vùng đổi tên núi Bổ Đà thành Trinh Sơn, và đặt tên cho ngôi chùa là Trinh Tiết, dân Thanh Liêm hay dân tứ xứ thường qua lại lễ bái cầu phúc. Những ngày kỵ Tổ, dân sở tại thường dâng cơm gạo đỏ và xôi gấc muối vừng để làm giỗ.
 Theo cuốn Ngọc phả, chúng tôi tìm về chùa Trinh Tiết. Từ thành phố Phủ Lý xuôi hướng Nam đi theo quốc lộ 1, khoảng 15km thấy bên đường có biển chỉ dẫn: Di tích chùa Trinh Tiết-Kẽm Trống. Rẽ phía phải chừng 0,5km, cả một vùng sông nước mênh mang, sơn thủy hữu tình bày ra trước mắt. Thuở xưa, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi đi qua chốn này đã cảm tác bài thơ Kẽm Trống bất hủ.
Ngày nay, danh thắng quốc gia Kẽm Trống thuộc địa phận xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) và xã Gia Thanh (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Sông Đáy khi chảy qua vùng này bỗng trong xanh lạ lùng, được những dãy núi kề sát hai bên tạo nên phong cảnh hữu tình, làm nao lòng các tao nhân mặc khách. Toàn cảnh danh thắng, phía tả sông có núi Rùa, núi Cổ Động, núi Động Xuyên, núi Trinh Tiết; phía bên hữu sông có núi Bài Thơ, dãy núi Bạt Gia. Nhưng tiếc thay, giờ đây hầu hết các núi nằm trong quần thể danh thắng đều bị thay đổi cảnh quan và biến dạng nghiêm trọng, hậu quả của việc khai thác đá. Núi Rùa thì đầu rùa đã bị cụt mất, dọc triền núi vẫn còn vết tích của những cuộc nổ mìn phá đá. Theo chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm vào cửa hang Luồn phía hướng ra sông Đáy thì cửa hang đã bị bịt. Suốt theo chiều dài hơn ba trăm mét của dãy núi Bạt Gia (dân trong vùng còn gọi là núi Kẽm Trống) lởm chởm, lô nhô những sườn núi bị đánh mìn tơi tả.

chuatrinhtiet-3.gif
Voi đá trước chùa Trinh Tiết

 May mắn thay, có hai ngọn núi do đứng tách khỏi khu vực trung tâm Kẽm Trống nên vẫn còn tương đối nguyên vẹn, cây cối phủ um tùm một màu xanh mướt. Người dân nơi đây cho biết hai ngọn này chính là núi Trinh Sơn và núi Cô Ai. Hai ngọn núi này nằm biệt lập với khu dân cư, nên quang cảnh rất hoang vắng. Mặc dù chân núi Trinh Sơn có cổng chùa, nhưng khi leo lên núi chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng vì cảnh quan rất u tịch. Trên đường lên, có nhiều miếu nhỏ. Khi lên tới nơi, gọi là chùa nhưng kỳ thực chỉ là ngôi am nhỏ vắng lặng, tọa lạc trên một mặt bằng khá phẳng chỉ rộng chừng 15m2. Chùa thấp nhỏ mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, hoành tròn, mái lợp ngói nam, kết cấu kiểu chữ Đinh. Vì chùa không có sư, cũng không có người trông coi, nên cửa đóng chặt. Nhìn qua khe chấn song cửa, thấy rõ giữa chùa có tòa chính tẩm tuy rất nhỏ nhưng bài trí 5 lớp tượng. Dưới cùng là tòa Cửu long, lớp thứ 2 là pho tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, lớp thứ 3 là pho tượng nữ giới tạc theo kiểu Phật A Di Đà, lớp thứ 4 là ba pho Tam thế, trên cùng là tượng Phật. Ban đầu, chúng tôi tưởng pho tượng bài trí ở lớp thứ 3 là Phật A Di Đà, nhưng khi xuống núi, được người dân sở tại cho biết đó chính là tượng Bạch Hoa công chúa (tức tổ Thu Thu), có niên đại thời Lê sơ, thế kỷ XV. Tượng Bạch Hoa công chúa được tạc bằng đá, theo kiểu Phật A Di Đà trong tư thế ngồi thiền như người thật, cao 1,2m, tay trái để ngửa, tay phải úp lên đầu gối.
 Kề bên phải chùa có ngôi miếu nhỏ, trong đặt pho tượng Sơn thần. Ngay sát phía dưới lối lên chùa, có tảng đá hình con voi quỳ giống y như thật, nhưng lại không có vẻ là do tạc đẽo tạo hình. Trên đường lên núi, có miếu nhỏ, trong đặt pho tượng tổ sư Thu Thu tạc từ đá Bạch Ngọc, mới được dân trong vùng đưa lên. Ngày nay, cả hai huyện Thanh Liêm và Gia Viễn, có 9 nơi thờ Bạch Hoa công chúa, nhưng ngày giỗ tổ Thu Thu, dân những nơi này đều tụ về chùa Trinh Tiết để tưởng niệm ngài.

Chùa Đọi Sơn (Hà Nam)

Bao đời nay, núi Đọi – sông Châu đã trở thành một biểu tượng tiêu biểu của Hà Nam, quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn đã đi vào tiềm thức  người dân nơi đây như một niềm tự hào về lịch sử văn hoá của mảnh đất quê hương.
 Chùa Đọi Sơn toạ lạc trên đỉnh núi Long Đọi, thuộc địa phận huyện Duy Tiên, cách thành phố Phủ Lý khoảng 8km. Chùa Long Đọi Sơn có tên chữ là Sùng Thiện Diên Linh, được xây dựng vào thời Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông ( khoảng năm 1121). Tương truyền, dưới thời Lý chùa mang tên là Long Đội Sơn, đến thời Hậu Lê đổi tên là Đọi Sơn. 

Cũng có rất nhiều cách lý giải về cái tên Đọi Sơn mà nhân dân quanh vùng truyền nhau như : do núi trông giống hình dạng cái bát úp ( “ bát ” trong tiếng cổ có nghĩa là Đọi : ăn không nên đọi, nói chẳng lên lời.). Núi Đọi nằm ở giữa xã, cao chừng khoảng 400m, chu vi khoảng chừng 2500m. Mặt bằng chùa rất rộng, lưng tựa vào núi Ðiệp với ba dòng sông uốn khúc bao quanh. Ngôi chùa đã được trùng tu nhiều lần, hiện nay chùa còn giữ được nhiều di vật quý như tượng Phật Di Lặc bằng đồng ở chính điện; 6 pho tượng Kim Cương bằng đá, cao 1,60m; bia đá Diên Linh (dựng năm 1121), cao 2,88m, rộng 1,40m và dày 0,29cm, đặt trên đế đá chạm rồng, hình chạm khắc và hoa văn trang trí trên bia mang đậm phong cách thời Lý; 4 pho tượng hình người có cánh cao 40cm, bề ngang 30cm.Quanh chân núi có 9 giếng nước tự nhiên mà dân gian gọi là chín mắt rồng. Từ trên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía, khung cảnh khoáng đạt, nên thơ, có cánh đồng lúa, bãi ngô, ruộng khoai mượt mà, tươi xanh, chân núi có dòng Châu Giang quanh co lượn khúc như dải lụa đào uốn quanh. Quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá tâm linh to lớn. Từ xa xưa tín ngưỡng dân gian đã coi Đọi Sơn là trái “ núi thiêng ”. Thuyết phong thủy nói rằng nơi đây đất phát nghiệp  bá vương: “ Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương, lưu truyền vạn đại.”  Xung quanh chân núi đã phát hiện nhiều mộ cuốn vòm kiểu Hán, đầu người chết quay đầu về núi. Trong quá trình khai quật mộ thuyền ở địa phận xã Yên Bắc các nhà khảo cổ đã phát hiện và chứng kiến nhiều ngôi mộ có đầu nhằm hướng Núi Đọi. Lần theo lịch sử, những di tích đầu tiên được phát hiện ở núi Đọi là khu mộ táng cổ có niên đại trước sau Công nguyên ở khu vực ven Đầm Vực, khu Ao Gấu và gò Con Lợn. Từ khu di chỉ đến chân núi chỉ khoảng 1km. Trong 11 ngôi mộ được tìm thấy có 3 ngôi mộ thuộc loại quan tài hình thuyền, hai ngôi mộ đất kè đá, bốn ngôi mộ dát giường. Các ngôi mộ đều quay đầu vào núi. Chính những phát hiện này càng làm cho vùng đất này mang một nét đẹp kì bí, lạ thường. Cho tới ngày nay, người dân vẫn thường qua lại nơi đây và mỗi dịp lễ, tết để cầu khấn, gửi gắm những nguyện vọng, mong ước của họ.

Chùa Đọi thời Lý xếp hạng là “ Đại danh lam ” kiêm hành cung, thời Pháp từng được liệt vào hạng các cổ tích danh thắng để bảo vệ. Nét đặc biệt nhất của quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn phải kể đến là ngôi chùa và cây tháp Sùng Thiện Diên Linh được vua Lý Nhân Tông xây dựng năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118), khởi công vào tháng 5 đến mùa thu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 ( 1121 ) thì được hoàn thành. Tháng 3 năm Nhâm Dần (1122 ) nhà vua mở hội khánh thành chùa tháp. Toàn bộ công trình kiến trúc quý báu đó đã bị quân xâm lược nhà Minh phá hủy. May mắn còn sót lại tấm bia Sùng Thiện Diên Linh và 6 pho tượng Kim Cương, tượng thần Kinaras. Ngôi chùa cũng đã từng trải qua rất nhiều lần tu bổ vào các triều Hậu Lê, Mạc, Nguyễn. Lần tu bổ lớn nhất là vào thời Nguyễn, quy mô chùa trên 100 gian lớn, nhỏ, thiết kế kiểu nội công ngoại quốc. 

Lễ hội chùa Đọi hàng năm mở từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 3 Âm lịch, chính hội vào ngày 21 là một lễ hội thu hút rất đông du khách gần xa đến tham dự và vãn cảnh. Hoạt động thu hút nhất của lễ hội là đám rước kiệu từ chân núi lên chùa nhằm tưởng niệm Lý Nhân Tông và bà Ỷ Lan – người có công xây dựng ngôi chùa. Ngoài ra còn có lễ dâng hương, tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn trời Phật. Lễ hội diễn ra nhiều trò chơi như : chơi cờ người, đấu vật, hát đối…
Đến năm 1992 chùa Đọi được bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc Gia. Quần thể di tích – danh thắng Đọi Sơn ngày càng khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và du lịch to lớn, khắc sâu thêm biểu tượng của quê hương núi Đọi sông Châu trên bản đồ Hà Nam.