Showing posts with label Điểm du lịch Miền Nam. Show all posts
Showing posts with label Điểm du lịch Miền Nam. Show all posts

Friday, March 25, 2016

Chùa Bà Thiên Hậu (Bình Dương)

Là một di tích văn hóa của tỉnh Bình Dương. Miếu bà Thiên Hậu “Thiên Hậu Cung” thường được người dân quen gọi là chùa Bà có kiến trúc theo lối cổ, là nơi thờ tự tôn nghiêm, một điểm hành hương rất quen thuộc của người dân Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận.
Chùa Bà hiện nay tọa lạc tại số 4, đường Nguyễn Du, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương và một ngôi chùa Bà mới được khánh thành vào tháng 1/2013 ở trung tâm thành phố mới Bình Dương. Tuy nhiên, khi nhắc đến chùa Bà ở Bình Dương, người ta thường nghĩ ngay đến chùa Bà ở thành phố Thủ Dầu Một.

Chùa Bà Thiên Hậu (thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương).
Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu
Theo truyền thuyết được ghi ở tấm bia đá đặt ở chùa, Bà sinh vào thời Tống Kiến Long nguyên niên (Công nguyên 960), là con thứ 6 của gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi mới lọt lòng mẹ, Bà đã toả ánh hào quang và hương thơm. Lớn lên, Bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển và du ngoạn nhiều nơi. Đến đời Tống Ung Hy tứ niên (Công nguyên 987), năm 27 tuổi Bà từ giã cõi trần và hiển linh. Đời Nguyên, Bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh, vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu. Và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại cho đến nay.
Từ truyền thuyết dân gian đã chuyển hoá thành tín ngưỡng và Bà được những thế hệ sau hương khói, phụng thờ ở nhiều nơi. So những điều ghi ở bia đá nói trên với một số truyền thuyết về Bà ở các chùa khác thì có ít nhiều khác biệt, nhưng nhìn chung họ đều ca ngợi suy tôn Bà là một người phụ nữ đức hạnh, hiếu thảo, xả thân cứu người đời và khi chết hiển linh, được các triều đại phong kiến Trung Quốc phong tặng. Đề cao Bà Thiên Hậu, ngưỡng mộ và phụng thờ Bà như một vị hiển thánh, bà con người Hoa muốn thông qua tấm gương của Bà mà giáo dục cộng đồng của mình hãy học tập lòng hiếu thuận, đức nhân hậu của Bà, sống có đạo nghĩa. Mặt khác, trên con đường vượt sóng gió biển khơi, đi về hướng Nam tìm đất lập nghiệp đầy gian truân, họ luôn cầu nguyện Bà giúp đỡ, phù hộ và sau khi đã định cư, ổn định đời sống, sum họp đông vui, làm ăn phát đạt trên đất Việt Nam, quê hương thứ hai của họ, họ cùng nhau lập đền thờ để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Bà.
Lịch sự hình thành chùa.
Chùa được xây dựng vào khoảng giữa thế kỉ XIX, lúc đầu chùa tọa lạc tại con rạch Hương Chủ Hiếu (nay đã xây dựng lại ngôi miếu trên vị trí ban đầu của xưa kia). Người xưa đã chịu ảnh hưởng của quan niệm dân gian là địa thế xây cất miếu Bà thường tuân theo nguyên tắc kiến trúc điện mẫu, tức là luôn mang yếu tính nữ trong xây cất, một trong yếu tố nữ là điện thờ nên chọn nơi gần sông, suối, ao, hồ… nghĩa là gần nơi có nước, vì nước mang yếu tố âm, mang tính nữ.
Đến năm 1923, bốn Bang người Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ) chung sức tái tạo, dời ngôi chùa về vị trí như ngày nay.
Về kiến trúc, thờ tự, trang trí, nội thất.
Toàn bộ ngôi chùa kiến trúc theo kiểu chữ tam gồm ba dãy nhà.
Vào sân chùa, trước cửa chánh điện có đặt một cái đỉnh lớn để những người đến chiêm bái cắm nhang.
Mái trước cửa chánh điện lợp ngói âm dương với những đường chỉ đắp nổi, trang trí lưỡng long tranh châu, cá chép hóa rồng. Hai bên đường viền của mái nhà là tượng “bà Mặt trăng”, những tượng quan văn, quan võ… tiêu biểu nhất lí âm dương và cũng là đặc trưng của lối kiến trúc người Hoa.
Ở giữa,  phía bên trên cửa chánh điện đề ba chữ "Thiên Hậu Cung, hai bên cửa là hai cặp câu đối ca ngợi công đức của Bà:
             Cặp câu đối thứ nhất:
Thánh đức phối thiên hải đức từ hành phổ tế
Mẫu nghi xưng hậu tang du trở đậu trùng quang.
Tạm dịch: Công đức của bậc thánh có thể sánh với trời, đức mênh mông như biển thuyền từ cứu vớt khắp cùng.
             Cặp câu đối thứ hai:
Thiên thượng từ hành nhân gian thánh mẫu
Hậu nghị cộng ngưỡng khôn đức trường tồn.
Tạm dịch: Tại thượng giới hiệu là từ hàng, tại nhân gian tồn là thánh mẫu. Bậc hậu oai nghi ai cũng tôn kính, đức dày mãi mãi với thời gian.
Trong chánh điện có treo nhiều cặp đối, nội dung các cặp đối là ngợi ca công đức và sự linh diệu của Bà trong việc cứu nhân độ thế, hơn nữa bà là vị nữ thần phò hộ cho người dân đi biển nên hầu hết các cặp đối đều có nhắc đến những hình ảnh có liên quan đến biển khơi và sự mong ước được sóng yên, bể lặng.
Tại chánh cung, thờ vị chánh thần là Thiên Hậu Thánh Mẫu, tượng có áo mão nghiêm trang và thường được thay mới hàng năm, hoặc hai, ba năm một lần. Bên trái điện thờ Bà là khám thờ Ngũ hành nương nương. Bên phải thờ Bổn, gọi là bổn đầu công công.

Bàn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Hai bên tường có giá cắm tấm biển đề Túc Tĩnh - Hồi Tị, để kêu gọi mọi người nghiêm trang hoặc tránh ra mỗi khi có rước kiệu Bà đi trên đường. Cặp biển thứ hai đề Thiên Hậu Nguyên Quân (vị thần chủ việc tiền tài). Các cặp biển sắp theo thứ tự trong thờ tự cũng như trong diễu hành lễ rước bà. 
Trong điện còn có trưng bày giá cắm bát bửu là tám món bửu bối của tám vị tiên theo truyền thuyết của người Trung Hoa.
Hai dãy nhà hai bên chính điện có đề ở cửa cái chữ "Thất phủ, công sở", là nơi làm việc, hội họp và những kho chứa đồ đạc. Do vậy, mà bên trong phía bên phải ghi những chữ như: "Hữu thông" (đi suốt qua bên mặc), “Sự chi, Công lý” (mọi việc theo lẽ công). Bên trái ghi: “Dĩ lễ, Thủ chánh” (hãy theo lễ, giữ gìn cái chính), “Quảng nội” (rộng rãi bên trong), những chữ vắn tắt ấy như những khẩu hiệu nhắc nhở mọi người.
Nhìn chung, ngoài những lối kiến trúc, thờ phượng, những chùa miếu người Hoa còn có những nét đặc trưng nữa là những cây nhang vòng và lồng đèn có viết chữ Hán được treo rất nhiều.

Lễ hội chùa Bà được xem là một lễ hội văn hóa lớn nhất ở tỉnh Bình Dương,được tổ chức thường lệ mỗi năm vào 3 ngày từ ngày 13 đến ngày 15/1 âm lịch với nhiều chương trình lễ hội đặc sắc: lễ cúng Bà, đấu giá lồng đèn, rước kiệu Bà,…

Khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương)

Khu du lịch Đại Nam ở Bình Dương còn gọi là Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến, nổi tiếng với quy mô hoành tráng và sở hữu nhiều kỷ lục ở Việt Nam. Diện tích khu du lịch Đại Nam trải rộng hàng trăm hécta, có núi non, sông hồ, biển cả cùng nhiều hạng mục kiến trúc độc đáo. 

Khu du lịch Đại Nam có gì hay
Quần thể đền thờ ở khu du lịch Đại Nam được xây dựng bề thế trên diện tích 9ha, mang ý nghĩa văn hóa lịch sử và đậm nét tâm linh, gồm có: quảng trường rộng lớn, kim điện nguy nga, dãy Bảo Sơn hùng vĩ, dòng Bảo Giang thơ mộng, Bảo Tháp đồ sộ, hồ Bích Ngọc xanh biếc bốn mùa. Đây là cụm công trình có giá trị tôn vinh, vọng ngưỡng tinh hoa của 4000 ngàn năm văn hiến và ghi dấu những mốc son rạng ngời trong lịch sử Việt Nam.

Biển nhân tạo ở khu du lịch Đại Nam được chia thành 2 khu vực: biển nước ngọt và biển nước mặn. Bao quanh biển là núi, bên cạnh là tòa lâu đài tráng lệ, giữa biển là các ốc đảo nhỏ, dọc bờ là cây cảnh đặc trưng xứ biển... với tổng diện tích gần 22 ha. Riêng diện tích mặt biển là 20.000m2, chiều sâu 2m, sức chứa khoảng 30.000 khách. 

- Điều hấp dẫn là biển Đại Nam có hệ thống tạo sóng kép gần như sóng biển thật, với 9 kiểu đánh sóng khác nhau từ chế độ mạnh, dần đều, sóng 1 bên, sóng 2 bên... tạo cảm giác sôi động và thích hợp cho từng đối tượng du khách. Chu kỳ dập sóng điều chỉnh tự động theo chế độ: chạy 20 phút nghỉ 10 phút. Hệ thống lọc nước 24/24h.

Vui chơi ở khu du lịch Đại Nam có diện tích đến 50ha với hơn 40 trò chơi hấp dẫn, từ cảm giác mạnh như: tàu lượn siêu tốc khủng nhất Việt Nam, tàu lốc xoáy, vượt thác, thám hiểm bầu trời, vòng xoay vũ trụ, đua xe thể thức F1... khám phá bí mật kim tự tháp, lâu đài phù thủy, long thần đại mê cung, 18 tầng địa ngục, ngũ lân, ngũ phụng...

- Ngắm tuyết thật, chơi đùa và trượt tuyết trong môi trường -15 độ C; rạp chiếu phim màn ảnh vòm đường kính 18m đầu tiên ở Việt Nam, với 6 máy chiếu và 18 loa hoạt động cùng lúc, tạo ra những hình ảnh choáng ngợp, âm thanh sống động... Đến các các trò chơi phổ thông, trò chơi dân gian, và cả khu vui chơi đặc biệt dành cho thiếu nhi.

Vườn thú ở khu du lịch Đại Nam rộng mát, đa dạng về chủng loại, đặc biệt là các loại thú quý hiếm như: sư tử trắng, hổ trắng, công trắng, bạch xà, tê giác, ngựa vằn, kangaroo, rùa da báo, hươu cao cổ, hà mã, hổ đông dương, khỉ sóc Nam Mỹ, báo lửa, nai cà tong, hồng hoàng, Linh Dương sừng xoắn... cùng chim chóc, bò sát và cá cảnh.

- Tại vườn thú Đại Nam, bạn có thể tự tay cho một số loài thú ăn, hay tham gia các hoạt động ngoại khóa về nghiên cứu, bảo tồn và nhân giống. Đặc biệt, đây còn là vườn thú đêm đầu tiên ở Việt Nam, bạn có thể quan sát được đời sống, tập tính sinh hoạt, săn mồi vào ban đêm của các loài động vật hoang dã nhờ vào hệ thống đèn ánh trăng.

Dã ngoại ở khu du lịch Đại Nam có các loại hình như: cắm trại giữa rừng cây cao su rợp bóng mát, sinh hoạt đội nhóm, trò chơi tập thể; câu cá giải trí tại hồ, với cá tai tượng, cá điêu hồng, cá chép, cá rô phi, cá trê, cá chim, cá trắm... kích cỡ khá lớn, sau đó thưởng thức thành quả trong các chòi lá, rồi căng lều, mắc võng đu đưa thư giãn...

Ngoài ra, khách Sạn (khu du lịch Đại Nam) là là nơi nghỉ ngơi lý tưởng, với sự kết hợp hài hòa giữa những nét đặc trưng của kiến trúc thành Cổ Loa và cung đình Huế. Hệ thống khách sạn có đầy đủ những tiện nghi cùng trang thiết bị hiện đại, không khí ấm cúng, các dịch vụ đi kèm đa dạng, đội ngũ nhân viên chuyên môn và nhiệt tình.

Khu du lịch Đại Nam Văn Hiến mang tầm cỡ khu vực, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc và có nhiều loại hình vui chơi giải trí, trở thành điểm đến nổi bật của du lịch Bình Dương.


Giá vé khu du lịch Đại Nam 2015

Vé riêngCổng khu du lịch Đại NamCổng biểnCổng vườn thú
Người lớn100.000đ100.000đ80.000đ
Trẻ em (cao từ 1 - 1,4m)50.000đ60.000đ50.000đ
 
Vé gộpCổng KDL + Biển + Vườn thúCổng KDL + BiểnCổng KDL + Vườn thú
Người lớn200.000đ150.000đ130.000đ
Trẻ em (cao từ 1 - 1,4m)120.000đ80.000đ70.000đ
* Vé gộp chỉ sử dụng trong ngày và không được hoàn trả. Không áp dụng trong các ngày lễ, Tết.
 
Vé ưu đãiCổng khu du lịch Đại NamCổng biểnCổng vườn thú
Học sinh cấp 3 & sinh viên100.000đ100.000đ80.000đ
Học sinh cấp 280.000đ80.000đ70.000đ
Học sinh cấp 150.000đ60.000đ50.000đ
* Vé ưu đãi chỉ áp dụng cho đoàn từ 20 học sinh, sinh viên trở lên.

* Giờ mở cửa khu du lịch Đại Nam : 07h30 - 17h00.
Kim điện lộng lẫy ở Khu du lịch Đại Nam Bình Dương
Kim điện lộng lẫy ở Khu du lịch Đại Nam Bình Dương
Trượt tuyết ở Khu du lịch Đại Nam Bình Dương
Trượt tuyết ở Khu du lịch Đại Nam Bình Dương
Biển nhân tạo ở Khu du lịch Đại Nam Bình dương
Biển nhân tạo ở Khu du lịch Đại Nam Bình dương
Hổ trắng ở Khu du lịch Đại Nam Bình Dương
Hổ trắng ở Khu du lịch Đại Nam Bình Dương
Tàu lượn ở Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến Bình Dương
Tàu lượn ở Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến Bình Dương
Mê cung ở Lạc cảnh Đại Nam Văn Hiến tỉnh Bình Dương
Mê cung ở Lạc cảnh Đại Nam Văn Hiến tỉnh Bình Dương

Bánh bèo Mỹ Liên – xã Thuận An (Bình Dương)

Nhắc đến món bánh bèo bì chợ Búng, người Sài Gòn thế hệ trước hay nhớ về những ngày cuối tuần rong ruổi về Lái Thiêu để thưởng thức món ngon độc đáo này. Ngoài ra, với những vườn cây râm mát cùng nhiều đặc sản trái cây tươi ngon, Lái Thiêu cũng từng một thời là điểm hẹn lý tượng của những nhóm bạn từ Sài Gòn.
Ở chợ Búng (Búng là một địa danh của xã An Thạnh, Thuận An - Bình Dương) có hai quán bánh bèo bì rất nổi tiếng là Mỹ Liên và Ngọc Hương. 

Quán Mỹ Liên tuy hơi xa hơn một chút so với Ngọc Hương (ở sát trong chợ) nhưng vẫn được ưa chuộng hơn nhờ lịch sử lâu đời cùng hương vị hấp dẫn. Nến biết rằng cô chủ quán đã ngoài 60 chính là cháu ngoại của người sáng lập ra thương hiệu này, nhẩm tính nhanh cũng có thể đoán được tuổi đời của món ngon phải ngoài 100. Khởi thủy từ một gánh hàng rong bên vệ đường, khách phải ngồi chồm hổm để ăn, dần dần kê bàn bán trong sân, rồi mới từ từ vào nhà trệt, và cho đến nay thì khách được ngồi hẳn trong một căn nhà khang trang có nhiều lầu.
Nói về món bánh bèo bì, chắc chắn 3 thành phần quan trọng nhất phải là bánh bèo, bì và nước mắm. Thoạt nghe có vẻ đơn giản nhưng cách chế biến hết sức cầu kỳ.
Đầu tiên là công đoạn đổ bánh bèo. Ngày trước người Bình Dương thường đổ trong chén (như thường thấy trong bánh bèo Huế). Quá trình này là cả một nghệ thuật, khi tay đổ dứt giọt bột cuối cùng thì phải vừa ngám miệng chén. Có vậy thành phẩm sau khi hấp xong miếng bánh bèo mới đẹp. Bột gạo để làm bánh cũng cầu kỳ không kém: gạo được ngâm qua đêm, rồi đổ cho ráo nước cho đến khi nào không còn mùi chua (cám gạo lên men khi gặp nước), xay nhuyễn rồi hòa với nước thành bột nước. Ngày nay áp dụng nhiều công nghệ mới nên việc đổ bánh cũng đơn giản đi bội phần.

Từng miếng bánh bèo với bột đậu xanh ở trên, quết thêm chút mỡ hành rồi phủ bì lên... chỉ đơn giản là vậy sao có thể cuốn hút bao nhiêu thế hệ thực khách? Vị ngon, hay là ký ức đẹp của những ngày cuối tuần rong ruổi về vườn trái cây Lái Thiêu, tận hưởng cái trong lành của một vùng đất yên bình... 
Bên cạnh miếng bánh bèo ngon thì bì và nước mắm cũng quan trọng không kém. Bì là hỗn hợp thịt heo xắt mỏng, bì heo ram xắt mỏng từng sợi trộn thính gạo, thêm gia vị là tỏi và bột canh. Theo chia sẻ của chủ quán thì với thịt heo phải lựa loại thịt đùi ngon bọc da chung quanh, ram đến gần vàng. Còn nước dừa thì cho vào nồi để lửa riu riu cho ngấm vào thịt thì mới thơm. Tỏi để trộn chung phải nồng và thơm, thính cũng vậy (vì không thơm là thính cũ, trộn vào sẽ làm giảm hương vị của bì). Nước mắm ăn kèm là hỗn hợp nước mắm ngon nhiều đạm pha loãng cùng nước thắng kiệu. Cũng loại nước mắm này khi ăn với bún bì cũng khá ngon. Quán còn có thêm món chả giò, ăn riêng hoặc ăn với bún cũng rất ngon. Miếng chả giò giòn rụm, kẹp thêm chút rau sống rồi nhanh chóng tan vào miệng cùng với loại nước mắm đặc biệt trên. "Trăm năm cho một hương vị", quả không hữu danh chút nào.

Chùa Hội Khánh (Bình Dương)

Toạ lạc tại số 35 Yersin, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một (bên tay trái quốc lộ 13, hướng từ Sài Gòn về Bình Dương). Chùa được xây dựng vào thế kỷ XVIII (1741), nằm giữa một rừng dầu và là ngôi chùa lâu đời nhất tại Bình Dương. Chùa được trùng tu và xây dựng thêm tượng Đức Bổn sư Thích ca nhập Niết Bàn cao 12m, dài 52m. Là một công trình tôn giáo mang tính chất lịch sử và mỹ thuật cao, được tổ chức Kỷ lục châu Á tại Ấn Độ công nhận là tượng Phật nằm dài nhất Châu Á, đồng thời cũng dài nhất Việt Nam
Với chiều dày về lịch sử, tôn giáo, kiến trúc mỹ thuật và truyền thống yêu nước gắn bó giữa đạo Pháp và dân tộc, chùa được công nhận di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia ngày 07/01/1993.
Di tích trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1891, 1906, 1917, 1991,1999. Năm 2004 trùng tu cổng chính. Vườn chùa có 9 ngôi bảo tháp, có giá trị mỹ thuật cao  được trùng tu, tôn tạo vào năm 2006.
Hiện nay, năm 2007 chùa xây dựng thêm ngôi tháp 7 tầng cao 27 mét và tái tạo lại Phật tích “ Tứ động tâm”, gồm có: Vườn Lâm Tì Ni(nơi Phật ra đời), Bồ Đề Đại Tràng(nơi Phật thành đạo), Vườn Lộc Uyển(nơi Phật thuyết đầu tiên), Ta La Song Thọ(đức Phật nhập niết bàn) có ý nghĩa sâu sắc về đạo pháp.
Tuy đã được sửa chữa, trùng tu nhiều lần nhưng về cơ bản đây là ngôi chùa hiếm hoi vẫn còn giữ được phần lớn kiến trúc ban đầu. Không chỉ nổi tiếng về niên đại thành lập, giá trị kiến trúc nghệ thuật. Cho đến nay chùa còn lưu giữ được nhiều cổ vật có giá trị cao về lịch sử văn hoá, tôn giáo, mỹ thuật, kể cả nhiều tự khí mộc bản (khắc in), kinh sách, liển đối, tài liệu, văn thơ, địa lý, y học cổ. Chùa Hội Khánh còn là một công trình điêu khắc chạm trổ tinh vi, khéo léo từng bộ phận, chi tiết trong nội thất như cột kèo, đầu dư, cửu võng, câu đối,...
​Mặt tiền chùa
Mặt tiền chùa
Nét nỗi bật của ngôi cổ tự này là giá trị phong phú về mặt lịch sử văn hoá, nghệ thuật kiến trúc, đặc biệt phần lớn những di tích, cổ vật hàng mấy trăm năm được bảo tồn lưu giữ cho đến nay. Hội Khánh còn được xem là ngôi chùa tiêu biểu cho đặc điểm chung của các ngôi chùa cổ Bình Dương: “ Trong tỉnh có nhịều chùa cổ, đặc biệt ở đây là xứ sở của nghệ thuật, nên các chùa này đều xây dựng theo quy mô đẹp, trong chùa có nhiều tác phẩm trang trí, nhất là hệ thống tượng thờ đạt tiêu chuẩn, không nơi nào có được”.
Về cấu trúc chùa gồm bốn phần chính: Tiền điện – chánh điện; giảng đường kiến trúc này có 92 cột gỗ quý), Đông lang và Tây lang chùa bố trí theo kiểu “sắp đôi” nối liền nhau với kiến trúc “trùng thềm, trùng lương”. Đây là biến tấu đặc biệt trong kiến trúc theo truyền thống chùa cổ xứ Nam Kỳ. Chánh điện với kèo cột, vách gỗ và ba bộ cửa bức màn, còn có gần 100 tượng gỗ, các vị La Hán và thập điện Minh Vương dáng vẻ khác nhau được tạo bằng gỗ mít sơn son thép vàng. Đặc biệt có hai bức phù điêu chạm hình 18 vị La Hán và các vị bồ tát, tạo nên một công trình điêu khắc tuyệt mỹ, có giá trị nghệ thuật cao mang đặc trưng của phong cách điêu khắc gỗBình Dương xưa. Đây là công trình mang dấu ấn những bàn tay tài nghệ độc đáo của lớp thợ xứ Thủ (TDM) ở cuối TK XIX (trong đó phải kể đến các thợ như thợ phèn, đường, Trương Văn Cang, Nguyện Văn Ba, Nguyễn Văn Xù, Sáu Nhồng, Chính Trí…)
Về phần liễn đối, thơ văn còn lưu giữ phong phú, giá trị khó có ngôi chùa nào sánh kịp. Nơi chánh điện có những câu liễn đối tiêu biểu cho đạo vị thiền học được nhiều người nhắc đến:
“Nhược thực nhược hư trúc ảnh tảo giai trần bất động
thị không thị sắc nguyệt xuyên hải để thuỷ vô ngân”
(Như thực như hư, bóng trúc quét thềm, bụi trần chẳng động.
Là không là sắc, ánh trăng xoáy biển, nước biển không nhồi)
Nói riêng về cảnh chùa ở đây cũng như nói chung về bốn thiền môn, ở ngoài tiền điện còn có ba bài thơ cảm tác “Hội Khánh tự hữu cảm thi” (bài thơ cảm tác về chùa Hội Khánh) không chỉ có giá trị cao nói về sự tĩnh tâm, thanh tịnh của nhà Phật mà còn mang đậm phong cách cao nhã trong văn chương. Dưới đây xin trích lại phần diễn ý ra quốc ngữ đoạn cuối bài thơ: … giữa đám cỏ xanh dựng lên chùa như tại một cảnh tiên. Lòng vui rảo bước qua khu rừng khoe màu sắc. Đêm ở lại chùa cùng các tăng đàm đạo. Nơi Phật đường yên vắng ngồi tĩnh dưỡng. Im lặng tịnh tâm quay lại với chính mình. Bỗng hương huệ khó đưa nhiều nhà sư đến.
 Ngoài ra, nhiều người cũng nhắc đến câu đối của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc còn lưu ở chùa Hội Khánh, với ý nghĩa ngôn từ hàm súc của thiền học: “Đại đạo quảng khai thố giác khuê đàm để nguyệt. Thiền môn giáo dưỡng, qui mao thằn thụ đầu phong” (Tạm dịch: mở rộng đạo lớn như sừng thỏ như mò trăng đáy nước. Nuôi dưỡng mái chùa như lông rùa như cột gió đầu cây).
Về phần nghệ thuật trang trí nội thất, tranh tượng tự khí thờ phượng qua các công trình điêu khắc, chạm trổ qua các hoa văn hoạ tiết các bộ bao lam, tứ linh, cửu long, dây nho, lá lấp, hoa phù dung… đều rất công phu, sắc sảo… đặc biệt phải kể đến bộ bao lam “thập bát La Hán” (tạo tác 1921), bức phù điêu “tứ thời” ốp vào hai cột trước chánh điện; các bàn thờ chạm trổ tinh vi hoàn thành vào năm At Sửu (1925).
Nhà chùa còn giữ được bộ mộc bản in kinh cách đây trên 120 năm; vào năm At Dậu (1885) hoà thượng ấn long cho khắc bộ tam bản (mộc bản) và đây có thể là bộ mộc bản sớm nhất ở Thủ Dầu Một -Bình Dương. Hiện chùa lưu giữ các bộ kinh A Di đà, Hồng danh, Vu lan, Bát dương, Phổ môn vốn đã được ấn tống cho các chùa trong tỉnh và đây cũng là các bộ kinh sách được khắc in quá sớm ở Nam Bộ. Sau đó, hoà thượng Từ Văn tiếp tục thực hiện một số bộ mộc bản in kinh 1930.
Đại hồng chung của chùa được đúc vào năm Quí Mùi (1883) do Bổn đạo Dương Văn Lúa hiến cúng. Điều đó cho thấy  đạo phật đã phát triển khá sớm và khá vững mạnh tại địa phương này.
Tháp tổ Từ Vân
Tháp tổ Từ Vân
Từ khi thành lập đến nay chùa đã trải qua 10 vị trụ trì (9 vị đã viên tịch)trong đó không ít vị cao tăng, đạo đức tài năng nổi danh cả Nam Bộ. Ngoài đại ngạn thiền sư người khai sơn sáng lập chùa, có công hoằng pháp khá sớm ở địa phương này, còn phải kể đến hoà thượng Từ Văn (1877 -1931)- Ngài đã đào tạo nhiều đệ tử tài đức có công đức với đạo pháp cũng như với dân tộc. Đặc biệt không thể không nhắc đến nhà sư yêu nước hoà thượng Từ Tâm đã bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo 1940. Hoà thượng Từ Văn có nhiều công đức và uy tín xếp hàng đầu các danh tăng ở Nam Bộ, được đương thời phong tặng cho Ngài là hoà thượng cả. Năm 1920 người Pháp đã mời ngài qua tây chủ lễ cầu siêu cho binh sĩ người Việt chết trận cho nước họ trong thế chiến thứ nhất (1914 -1918). Cũng có tư liệu cho rằng Ngài được mời tham dự cuộc đấu xảo của các xứ thuộc địa Pháp tại Mairseille cùng với một số mô hình kiến trúc phiên bản đình chùa, ảnh tượng điêu khắc (đặc biệt là bộ tượng thạp bát La Hán) của tỉnh Thủ Dầu Một được tuyển chọn.
Trong những năm 1923 -1926, chùa Hội Khánh Thủ Dầu Một còn là nơi ẩn náu qui tụ các nhân sĩ: nhà nho, nhà sư yêu nước cùng lập ra “Hội danh dự” với sự tham gia của chính hoà thượng Từ Văn, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (Thân phụ của bác Hồ), cụ Tú Cúc… mục đích của Hội là cổ vũ cho lối sống đề cao đạo đức, coi trọng danh dự và lòng yêu quý đồng bào đất nước. Dù Hội chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn nhưng đã gây dược ảnh hưởng đáng kể như nhận định của một nhà nghiên cứu: “ Những lời nói và việc làm của các cụ (trong hội danh dự – NHH) trực tiếp hay gián tiếp đã để lại cho dân chúng địa phương một ấn tượng tốt đẹp, ảnh hưởng sâu sắc lòng yêu nước của họ. Sau này chùa Hội Khánh thành một nơi mà nhiều lớp học sinh, thanh niên đến trọ học. Nhiều người trong số họ đã tham gia các phong trào yêu nước”.
Tượng Phật Niết Bàn
Tượng Phật Niết Bàn
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, chùa Hội Khánh là trụ sở Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một, đã góp nhiều công sức tâm huyết kể cả xương máu của các nhà tu, Phật tử nhà chùa. Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân địa phương từ 1953, chùa là trụ sợ Phật giáo yêu nước tỉnh Bình Dương và đến 1983 chùa Hội Khánh là trụ sở của tỉnh Hội Phật giáo Bình Dương. Năm 1995, nơi đây Tỉnh hội xây dựng Trường cơ bản Phật học tỉnh Sông Bé (Bình Dương). Hiện thượng toạ Thích Huệ Thông trụ trì chùa Hội Khánh (từ 1988) và là phó ban thường trực tỉnh Hội Pháp giáo Bình Dương.
Năm 2008, Phật đài quy mô lớn, cao 22m được xây dựng ở khu đất phía trước chùa. Tầng trệt là dãy nhà chiều dài 64m, chiều ngang 23m dùng làm Trường Phật học, Thư viện … Tầng trên tôn trí đại tượng đức Bổn sư Thích Ca nhập Niết bàn cao 12m, dài 52m. Đây là một công trình mỹ thuật đáng tự hào của Phật giáo Bình Dương, được khánh thành trọng thể vào ngày Rằm tháng Hai năm Canh Dần (30-3-2010) mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Chùa Tây Tạng (Bình Dương)

Theo sách Chùa Việt Nam - Xưa và Nay của Võ văn Tường cho biết: “Chùa tọa lạc trên một ngọn đồi thấp thuộc phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. ĐT: 0650.823020. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Chùa do Hòa thượng Nhẫn Tế Chơn Phổ sáng lập vào năm 1928, có tên là chùa Bửu Hương. Đến năm 1937, chùa được đổi tên thành chùa Tây Tạng. Điện Phật được bài trí trang nghiêm với khá nhiều tượng chư Phật, Bồ tát. Trụ trì là Hòa thượng Thích Tịch Chiếu.”

Theo một du khách hành hương đầu năm mô tả “Chùa Tây Tạng được xem là danh lam của miền đất Bình Dương. Nằm thong thả trên ngọn đồi có nhiều bóng mát cây xanh trên đường Thích Quảng Đức, phường Chánh Nghĩa, nên chùa có cảnh trí đẹp, thoáng mát, tĩnh lặng trước cảnh náo nhiệt của phố phường.
Nét nổi bật nhất là chùa được xây dựng theo kiến trúc của một ngôi tự viện Phật giáo Tây Tạng, đặc biệt trên tầng thượng là tượng Ngũ Trí Như Lai theo bố cục Mandala- biểu tượng của Phật giáo Mật tông.
Chỉ có ngày rằm, mồng một hoặc dịp lễ lớn, nhà chùa mới mở cửa cho du khách lên tầng thượng để chiêm bái Ngũ Trí Phật. Nếu du khách đi vào bên trong chánh điện thì chắc chắn sẽ không khỏi ngạc nhiên với nhiều bức họa sặc sỡ bằng nhiều màu sắc khác nhau được treo chung quanh. Mỗi bức họa là hình ảnh của các vị phật, bồ tát và tổ sư của Phật giáo Tây Tạng. Vì vậy, Chùa Tây Tạng ở Bình Dương được xem là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, mang màu sắc của Mật tông và khác hẳn với nhiều ngôi chùa khác ở Việt Nam.
Đến viếng chùa Tây Tạng, khách hành hương còn được nghe kể lại câu chuyện nhà sư Minh Tịnh đi tham bái Ấn Độ, Tây Tạng vào những năm 1935-1937. Sau khi đi viếng những thắng tích của Phật giáo ở Ấn Độ, ông bất kể hiểm nguy, khó nhọc đã vượt núi rừng Hi Mã Lạp Sơn để đến được kinh đô Lhasa của Tây Tạng thời đó. Tại đây, được cho là nhà sư Việt Nam đầu tiên đặt chân đến miền xứ tuyết với một ý chí bền bĩ hiếm có, nên ông được tiếp đón niềm nở và thọ truyền pháp tu của Phật giáo Tây Tạng. Cuộc hành trình này được ông ghi lại trong quyển Nhật ký tham bái Ấn Độ-Tây Tạng khá dày và hiện còn lưu giữ trong chùa.
Vào dịp đầu năm, chùa Tây Tạng có nhiều người lui tới, nhưng đông nhất là tối ngày mùng tám tháng giêng vì chùa tổ chức lễ cúng sao giải hạn, cầu an cho bá tánh thập phương. Nếu đến chùa vào buổi sáng hoặc lúc chiều, thỉnh thoảng du khách còn được thấy Sư Tịch Chiếu- người kế thừa sự nghiệp của Hòa thượng Minh Tịnh, năm này tuổi đã ngòai trăm, vẫn thong dong tự tại dạo quanh sân chùa. Mỗi dịp đầu năm, hai kiểng chùa Hội Khánh và Tây Tạng mở rộng cửa từ bi đón khách lễ phật, để giúp cho tâm mỗi người được bình an, hướng thiện.” (Dương Hoàng Lộc)
Dưới đây là một số ảnh ghi nhận trên Internet (tác gỉa: Quang Võ):

chua_tay_tang_binh_duong_2
chua_tay_tang_binh_duong_13
chua_tay_tang_binh_duong_3
chua_tay_tang_binh_duong_4
chua_tay_tang_binh_duong_5
chua_tay_tang_binh_duong_14
chua_tay_tang_binh_duong_7
chua_tay_tang_binh_duong_12chua_tay_tang_binh_duong_11
chua_tay_tang_binh_duong_8
chua_tay_tang_binh_duong_10chua_tay_tang_binh_duong_9


chua_tay_tang_binh_duong_15
Một vi Sư của chùa đang vẽ tranh

Nhà Thờ Chánh Toà Phú Cường (Bình Dương)

HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNI. LỊCH SỬ:
Hiện nay, nhà thờ toạ lạc ngay cạnh Ngã Sáu thuộc trung tâm Thành phố Thủ Dầu Một,, trên một khu đất cao hơn mặt đường lộ khoảng 4 m.
Về lịch sử, Không ai biết rõ nguồn gốc họ Phú Cường, mà trước kia gọi là họ Thủ Dầu Một. May mắn chúng ta còn giữ lại được bức thư của cha Phêrô Nguyễn Đức Nhi, Cha sở Việt Nam đầu tiên của họ Thủ viết cho Cha Poinat (Cố Oai) vào năm 1910. Ngài viết :

Vốn trước kia, đại Pháp qua Nam Kỳ thì chưa có họ Thủ, hoặc có một hai người đạo hạnh lếu láo theo ở giữa kẻ ngoại hoặc có kẻ trốn cơn bắt đạo, đến đó ẩn tránh vậy mà thôi. Đến lúc Đại Pháp đánh lấy thành Biên Hòa là năm 1861, thì qua chiếm cứ Thủ Dầu Một, vậy thì bổn đạo Tân Triều, Bến Gỗ, Búng, Lái Thiêu, Bến Sắn đổ tràn đến Thủ hoặc nương bóng cờ Langsa khỏi Trào Nam bắt bớ vì đạo, hay đặng buôn bán với người ngoại quốc. Bởi vậy sinh ra đông người có đạo ở đó. Tôi tưởng đó là gốc họ Thủ như vậy. Lúc ấy Đức Cha Bắc Kỳ (Mgr Puginier) với ít cha Langsa cùng nhiều thầy chạy trốn bắt đạo vô Sài Gòn, nên Đức Cha, ngài (Mgr Lefebre) xin các ông này lên Thủ coi sóc các họ sở ấy, vì các cha trong này khi ấy ít lắm. Lại nhận các thầy theo Đức Cha ra làm thông ngôn, như huyện Thi, Thầy Tạo, Thầy Viên, Thầy sáu Diên, các ông này “potentes” (quyền thế) lắm, nhất là huyện Thi …”. Những điều Cha Phêrô Nhi viết trên đây cũng ăn hợp với một số tài liệu lịch sử của xã hội.
II. CÁC NHÀ THỜ CỦA HỌ PHÚ CƯỜNG:
1.   Nhà thờ đầu tiên (1864):
Năm Ất Sửu, đời vua Tự Đức thứ XVIII, tức là năm 1865, cha Sorel Constant - Joseph đến Việt Nam và được sai đến Thủ Dầu Một, nơi đây ngài đã cất lên một ngôi nhà thờ đầu tiên bằng gạch, kiểu gothique, có tháp, trên gò nông cao, cạnh Tòa Bố cũ.
Nhà xứ, nhà trường Quốc ngữ thì được cất lên đồi nông thấp, đối diện mái nhà thờ, gần bên mồ mã của thời đàng Cựu (nay là nơi cất nhà chơi của trường thánh Giuse).

2. Nhà thờ thứ hai (1897):
Năm 1897, tại Thủ Dầu Một, công tác phá đồi lấp gạch, phóng đường quốc lộ được tiến hành nhộn nhịp. Vì dân phu đào đất phá nông quá nhiều, nên chân đồi nhà thờ bắt đầu bị trụt xuống, móng lồi ra làm nứt tường vách nhà thờ khá trầm trọng, khiến không sử dụng được nữa phải dỡ bỏ đi.

Thay thế nhà thờ bị hư, Cha Poinat (Cố Oai), lúc ấy là Chánh sở họ Thủ đã cất một ngôi nhà thờ khác khiêm tốn hơn trên Đất Thánh cũ (tức chỗ làm võ đài của trường Thánh Giuse). Đất Thánh được dời về địa điểm khác ở bên cạnh đường đi vô Họ đạo Chánh Thiện, thuộc phường Hiệp Thành. Đến năm 1995, vì nhu cầu phát triển đô thị, Đất Thánh được nhà nước quy hoạch xây dựng Trường chuyên Hùng Vương và năm 2001 xây trường Lê hồng Phong..

Nhà thờ thứ hai này được làm bằng gỗ mít nài, lợp ngói, nền lát gạch tàu, khá rộng rãi (28 m x 17 m). Tuy chính ngài cũng như các cha sở kế tiếp đều coi đây là nhà thờ tạm, chờ lúc thuận tiện sẽ cất nhà thờ khác xứng đáng hơn. Dầu vậy nó cũng thọ được trên 40 năm.
3. Nhà thờ hiện nay (1941):

Ngày 01 tháng 02 năm 1938, họ Thủ tiếp nhận Cha sở mới, Cha Félix Frison (Cố Hoàng). Ngài đến thay thế Cha sở Phanxicô Lê Vĩnh Khương được đổi lên làm Cha sở Dầu Tiếng. Cố Hoàng vừa xây xong Nhà thờ Mặc Bắc (Vĩnh Long) thì được đổi về Thủ. Nhà thờ Thủ cũng đến lúc phải xây lại. Vì thế ngài đã khởi công ngay, rập theo mẫu Nhà thờ Mặc Bắc vừa mới hoàn thành. Theo người ta kể lại, ngài đã đưa nhóm thợ Mặc Bắc lên và chính ngài trực tiếp đốc công xây cất. Ngài cũng dùng tiền của gia đình để lại mà mua sắm vật liệu và trang trải mọi chi phí.

Nhà thờ được kiến thiết hoàn toàn bằng gạch, vôi và cát. Vì thế, để có thể đứng vững, tường và cột được xây rất kiên cố, đồ sộ. Đây là những bức tường dày 50 cm (50 phân) xây trên nền đá. Hai hàng cột giữa to và cao. Trần được ghép thành những vòm, coi ngoạn mục, uy nghi và trang trọng. Cây tháp hiện nay là cây tháp đã đổ mất phần ngọn…

Nhà thờ mới được làm phép và khánh thành vào ngày thứ tư, 23 tháng 07 năm 1941. Hôm ấy cũng làm phép hai quả chuông mới. Như vậy tới nay nhà thờ này đã được hơn nửa thế kỷ (cụ thể là 64 năm).

Khi trở thành Nhà thờ Chánh Tòa vào cuối năm 1965, Cha Antôn Phùng Thành đã sửa sang lại cho hợp với phụng vụ mới và tiện việc cử hành các nghi lễ đại triều.
IV. SINH HOẠT HỌ ĐẠO XƯA VÀ NAY:
Theo lá thư của Cha Phêrô Nhi, về mặt tôn giáo cũng như xã hội của Họ Thủ vào năm 1875: “Khi tôi đến đó (1875) thì mọi sự là “bien organisé” (có tổ chức đàng hoàng): nhà thờ có rồi, như cha đã thấy (mà cha nào tạo lập tôi không rõ), nhà cha sở cũng có trên nông thấp trước nhà thờ, cha cũng biết có trường quốc ngữ (mà cha nào tạo lập tôi không nhớ)…
Khi tôi đến đó số bổn đạo gần 900, giàu có cả, nhất là huyện Thi, trùm Văn, huyện Vân, thầy Cửu, biện Quí, biện Mầu, biện Đình, biện Đó, biện Khao, biện Thản, bà Kim, bà Giàu (bà này còn sống hay đã chết xin cha hỏi bà này)”
Về việc tổ chức các ngày lễ, cha có ghi:
“Có một lần lễ Sinh Nhật dọn nhà thờ, ông Tham biện xem lễ. Lễ rồi ông ra nói cùng thầy rằng: “Này là cửa thiên đàng. (Tôi không rõ ông nói thật hay có ý nhạo) nhưng mà thật họ dọn cũng thắp đèn vô vàn trên tháp nhà thờ, ngó coi thiệt mỏng mắt… kẻ ngoại đến coi là vô số; tổng làng trực chủ, canh giờ nghiêm chỉnh, bằng an…” 
Theo tài liệu của MEP, vào thời cha sở Boutier Charles (1882-1886), Họ Thủ số giáo dân đã tăng là 1.200 người. 
Về mặt văn hóa, cha Phùng thanh Quang có ghi:
Năm 1902, Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập, họ tuy kém về tài chánh, nhưng củng cố vươn lên. Trường học nới rộng và tách riêng trường nam và trường nữ; các bà phước trắng Dòng thánh Phaolô dạy học. Người ta vẫn còn nhắc nhở đến Soeur Cathérine dạy lớp các trẻ lớn bao đồng trọng thể và đánh đàn rất giỏi. Soeur Anteine lo cho học trò nữ dạy học rất giỏi”
Từ cuối năm 1965, Giáo phận Phú Cường được thành lập, tách rời khỏi Giáo phận Sài Gòn. Nhà thờ Thủ đã trở thành Nhà thờ Chánh Tòa của Giáo phận mới mang cùng tên Phú Cường. 
Cha Phùng Thành được Đức Cha Giuse Phạm Văn Thiên mời về làm quản lý Giáo phận kiêm Chánh sở Nhà thờ Chánh Tòa. Trong vòng không đầy 2 tháng , cha phải gấp rút xây Toà Giám mục tạm thời tại cánh phải của nhà xứ kịp đón Đức Giám mục về nhận Giáo phận , ngày 06/01/1966.
Từ đây, Phú Cường trở thành trung tâm của địa phận nơi có Tòa Giám mục. Đức Giám mục thường xuyên cử hành các nghi thức trong những ngày lễ quan trọng, với sự tập trung của các linh mục và giáo dân trong toàn địa phận. Nơi đây, các lớp người từ các miền trong Giáo phận đã tụ về để hội họp, để thụ huấn, để sinh hoạt.
Con số giáo dân đã bắt đầu tăng lên, vì chiến tranh đã đến lúc ác liệt tại các vùng sâu, nên giáo dân từ nhiều nơi đổ về lánh cư.
Trường tiểu học trước kia, từ niên khóa 1966 đến 1967 đã trở thành trường trung tiểu học. Năm 1970 một ngôi trường được xây kiên cố với 01 hầm, 01 trệt, 02 lầu dài trên 60 m. Trường đã trở thành trường trung học tư thục lớn nhất của toàn tỉnh với danh hiệu trường Thánh Giuse. 
Từ năm 1978, trường Thánh Giuse đã được giao cho Nhà nước quản lý…Nhà thờ còn giữ lại nữa tầng hầm và 03 phòng tầng trệt để dạy Giáo lý.
Song song với việc xây cất nhà trường, cha Phùng Thành cũng xây một võ đường để cho các học sinh luyện tập võ thuật nhu đạo, ngay trước sân trường.
Năm 1970, do chính biến tại đất Campuchia, Hội dòng Con Đức Mẹ phải rời khỏi Trụ sở Russeykeo về Việt Nam và được Đức Cha Giuse tiếp nhận vào Địa phận và đặt trụ sở mới tại khuôn viện Nhà thờ Phú Cường.
Năm 1972, Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ thiêm đã xây mới một trụ sở tại đường Trần Văn Hùm, để làm ký túc xá cho học sinh tiểu học.
Cho đến năm 1975, Giáo xứ Chánh Tòa có 3 cộng đoàn nữ tu: các soeurs Dòng Phaolô phục vụ tại Bệnh viện tỉnh, Con Đức Mẹ phục vụ nhà xứ và phòng thánh, các dì Mến Thánh Giá Thủ Thiêm phụ trách Giáo lý.
Sinh hoạt đạo đức

Chúa Nhật có 06 lễ: phục vụ cho tín hữu tại chỗ, khách vãng lai và công nhân các khu công nghiệp.

Ngày thường có 02 lễ: sáng 5g00 và chiều 5g30.

Những giờ Chầu Thánh Thể: sau Thánh lễ chiều mỗi ngày.

Về các lớp Giáo lý, các em thiếu nhi, từ 6-17 tuổi theo học các lớp Giáo lý vào mỗi ngày Chúa Nhật.

Các lớp Giáo lý dự tòng, lớp Giáo lý hôn nhân mở dạy suốt năm.

Các hội đoàn: Legio, Dòng Ba Phan sinh, Dòng Ba Cát Minh, Cùng Theo Chúa, Hội Hiền mẫụ, Hội Phụ Lão, Hội Chữ Thập đỏ Công Giáo, tuy mới xây dựng lại, nhưng hoạt động rất tích cực…
Vì Bình Dương hiện nay là nơi phát triển các khu công nghiệp, số lượng người di dân từ nơi khác đến rất lớn, nên nhu cầu mục vụ cho họ cũng là điều quan tâm hàng đầu của Họ đạo: hỗ trợ xe đưa rước họ tham dự Thánh lễ Chúa Nhật, tổ chức những buổi giao lưu học hỏi Giáo lý, các lớp Giáo lý Dự tòng, Giáo lý Hôn nhân được tổ chức thường xuyên, số người tham dự ngày một nhiều…
Công tác bác ái xã hội

Trước 1975, Caritas Giáo phận Phú Cường do Cha Antôn Phùng Thành làm giám đốc đặt văn phòng hoạt động tại Phú Cường. Hiện nay, Ban Bác Ái Xã Hội của Giáo Phận có văn phòng tại Nhà thờ Chánh Tòa, nhiều công tác từ thiện đang được thực hiện cách đều đặn: xây dựng nhà tình thương, hằng tháng giúp gạo cho hơn 200 người bệnh tật, người già cả neo đơn, nồi súp tình thương cho bệnh viện, bữa cơm tình thương và khám phát thuốc tại nhà xứ vào mỗi trưa Chúa Nhật cho 300 người nghèo tại chỗ và mang tới nhà, giúp học bổng cho học sinh nghèo. Sự ủng hộ và đóng góp của giáo dân trong và ngoài Giáo xứ rất tích cực trong các công tác bác ái.

Dự kiến xây dựng 

Hiện nay Giáo xứ đang thiếu phòng ốc để dạy Giáo lý cho thiếu nhi vào mỗi chiều ngày Chúa Nhật, cũng như chưa có phòng sinh hoạt các đoàn thể.

Ngôi Thánh đường đang xử dụng quá hẹp và cũng đã xuống cấp rất trầm trọng. Mái vòm bị mục và rơi rớt từng mảng to, khiến người ngồi trong nhà thờ không an tâm khi dự lễ. Nhưng để xây dựng một nhà thờ mới khả dĩ dung nạp được số đông giáo dân hơn, cần có mặt bằng rộng hơn. Điều nầy lại vướng đến trường học Nguyễn Đình Chiểu là trường Thánh Giuse (cũ), Nhà nước đang quản lý và làm trường Trung học bán công.

Ngày 22/09/2005, Chính quyền Tỉnh Bình Dương công bố quyết định giao trả đất và ngôi trường lại cho Giáo xứ. Quyết định của Chính quyền đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước đối với nhu cầu của giáo dân Giáo xứ Chánh Tòa đang cần có nhà xứ, phòng sinh hoạt và phòng Giáo lý, và có điều kiện thuận lợi trong việc tái thiết ngôi Thánh đường đang bị xuống cấp trầm trọng.

Ước gì, hình ảnh của Nhà thờ Chánh Tòa, nhà thờ Mẹ của các nhà thờ trong Giáo phận, có vị trí giữa trung tâm Thị xã, nằm trên một gò cao, chứng kiến những dòng người ngược xuôi, như muốn gọi mời mọi người vươn lên cao, vượt khỏi những vướng bận của biết bao lo toan phiền muộn, để đến gặp Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.