Showing posts with label Điểm du lịch Miền Bắc. Show all posts
Showing posts with label Điểm du lịch Miền Bắc. Show all posts

Tuesday, March 15, 2016

Động Nàng Tiên Na Rì (Bắc Kạn)

Từ xa xưa, động Nàng Tiên  đã đi vào tâm linh của người dân vùng cao Na Rì Bắc Kạn. Tự bao đời đã lưu truyền một câu chuyện kể vể sự tích của khu động Nàng Tiên.
Động Nàng Tiên thuộc xã Lương Hạ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, là một hang đá tự nhiên có từ lâu đời và đã được Bộ văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia từ năm 1999. Nhìn từ xa, động như một thiếu nữ đang nằm ngủ, còn bên trong động lại lung linh huyền ảo bởi những mảng thạch nhũ.

Theo truyền thuyết kể lại, ngày xưa có 7 nàng tiên từ trên trời xuống hạ giới để vãn cảnh ở con suối dưới chân núi Phja Trạng. Do mải ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, hái hoa bắt bướm nên trời tối lúc nào không biết, các nàng tiên không kịp bay về trời liền chạy về phía bìa rừng trú ẩn. Thấy vậy trời rủ lòng thương đã tạo ra một cái động để các cô tiên trú ngụ qua đêm. Từ đó người dân đã đặt tên cho động đó là động Nàng Tiên.

Bên trong động lung linh huyền ảo bởi những mảng thạch nhũ - Ảnh: Du khách

Từ Thủ đô Hà Nội ngược Quốc lộ 3 tới địa phận Thác Giềng (thị xã Bắc Kạn) rồi rẽ phải, băng qua dải đèo Áng Toòng quanh co uốn lượn, du khách sẽ đến với huyện vùng cao Na Rì của tỉnh Bắc Kạn. 
Thị trấn Yến Lạc nằm gọn trong một một thung lũng bốn bề bao bọc bởi những dãy núi cao. Nơi đây bốn mùa khí hậu ôn hòa, dòng sông Bắc Giang tự ngàn xưa vẫn hiền hòa tuôn chảy tô điểm thêm cho nét đẹp yên bình của thị trấn vùng cao này.
Từ thị trấn Yến Lạc đi chừng 5km sẽ đến núi Phja Trạng (núi đá Voi). Dưới chân núi, cách bờ một con suối mang tên Khuổi Hai (suối trăng) khoảng 150m có một khu động đá tự nhiên với vẻ đẹp kỳ thú, đầy huyền bí, đó chính là Động Nàng Tiên.

Khu động đá tự nhiên với vẻ đẹp kỳ thú, đầy huyền bí - Ảnh: Sưu tầm

Động Nàng Tiên ăn sâu vào lòng núi khoảng 60m, có độ cao từ 30m - 50m. Bước vào trong động, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những nét đẹp đầy hấp dẫn của tự nhiên. Trong bóng tối, cả khu động lấp lánh những ánh lân tinh huyền ảo từ các nhũ đá, cột đá và măng đá.

Những ánh lân tinh kỳ ảo như những nàng tiên đang múa - Ảnh: Sưu tầm
Tạo hóa đã ban tặng cho nơi đây các cảnh đẹp hấp dẫn, lạ mắt trông giống như: Rồng bay, phượng múa, buồng tiên nữ, bên cạnh đó, những thửa ruộng bậc thang có dòng nước trong mát chảy quanh gọi là ruộng tiên, suối tiên. Động còn thông với nhiều hang nhỏ xung quanh làm cho nơi đây thêm bí ẩn và đầy thơ mộng.

Động Nàng Tiên còn thông với nhiều động khác xung quanh - Ảnh: Sưu tầm

Ngoài ra, tự bao đời còn lưu truyền một dị bản câu chuyện kể vể sự tích của khu động Nàng Tiên. Truyện kể rằng, thuở xưa có bảy nàng tiên xuống tắm mát, vãn cảnh tại con suối dưới chân núi Phja Trạng. Mải mê hái hoa, bắt bướm, vui say cảnh đẹp nên trời tối lúc nào không biết, các nàng tiên không kịp bay về trời.

Thạch nhũ kỳ vĩ, huyền ảo bên trong động - Ảnh: Sưu tầm

Đêm đến, dưới ánh trăng có người trần thế đến mò cua, bắt ốc, các nàng tiên vội vã lên bìa rừng ẩn nấp. Từ trên cao nhìn xuống, thương tình, Ông Trời đã đã tạo ra động này để các nàng tiên trú ngụ qua đêm. Dòng suối các nàng tiên xuống tắm được người trần thế gọi tên là Khuổi Hai (Suối Trăng), còn động nơi các nàng tiên nghỉ đêm gọi là Động Nàng Tiên. Câu chuyện đầy thần bí cùng với hai tên gọi đó đã được dân gian lưu truyền cho tới ngày nay.

Nơi các nàng tiên nghỉ ngơi - Ảnh: Sưu tầm

Vượt qua trở ngại về đường giao thông, du khách hãy một lần đến với huyện vùng cao Na Rỳ, Bắc Kạn, đến thăm động Nàng Tiên để khám phá vẻ đẹp đầy huyền bí, để thưởng thức trọn vẹn kiệt tác của tự nhiên ban tặng cho vùng đất này.
Nguồn Mytour.vn

Chợ tình Xuân Dương ( Bắc Kạn)


Không nổi tiếng như chợ tình Khâu Vai ở Hà Giang hay chợ tình SaPa ở Lào Cai nhưng chợ tình Xuân Dương ở Bắc Kạn lại có nhiều nét riêng độc đáo. Chợ được họp mỗi năm một lần vào ngày 25/3 âm lịch, người đi chợ tình tìm đến đây để nhớ lại những kỷ niệm xưa, tìm lại hình bóng người con gái, con trai mà họ từng yêu thương xem họ sống có hạnh phúc không.

Tìm lại hình bóng người xưa 

Chợ tình Xuân Dương được họp trên một bãi đất rộng ở trung tâm xã Xuân Dương, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, là chợ tình của đồng bào Tày, Nùng sinh sống tại các huyện miền núi cao của các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Ngay từ sáng sớm, các đôi trai gái mặc những bộ trang phục đẹp nhất của dân tộc mình dắt tay nhau xuống chợ, dòng người đổ về chợ mỗi lúc một đông làm cho không khí trở nên nhộn nhịp hẳn. Chợ họp không có người mua, kẻ bán. Những người đến đây chỉ để tìm lại bóng dáng người xưa, ôn lại những kỷ niệm cũ hay tìm cho mình một người bạn tâm giao.



Theo những người cao tuổi trong làng kể lại, ngày xưa, tại vùng đất họp chợ bây giờ, có đôi vợ chồng nghèo nhất mực thương yêu nhau, họ sống rất hạnh phúc.

Một ngày nọ, hai vợ chồng cùng đi làm đồng, chồng cuốc nơi cuối ruộng, vợ phát cỏ nơi đầu ruộng. Một viên quan đi qua thấy người phụ nữ xinh đẹp đã cho quân bắt nàng mang đi. Người vợ chống cự, kêu cứu thảm thiết nhưng do thửa ruộng quá dài, người chồng không nghe thấy. Khi hay tin vợ mình bị viên quan bắt đi, người chồng rất đau khổ nhưng không làm sao được.

Nhiều năm sau, người vợ tìm về gặp lại chồng cũ. Lúc ấy, mỗi người đã có một gia đình riêng của mình, không thể tính đến chuyện hàn gắn, họ chỉ còn biết ôm nhau mà khóc. Biết chuyện, dân làng ai cũng tỏ lòng thương. Cảm động trước tình cảm của những người yêu nhau nhưng không đến được với nhau nên mọi người đồng ý để hai vợ chồng cũ có một ngày ôn lại chuyện xưa và chọn thửa ruộng dài (Nà Rì) của vợ chồng nhà nọ làm nơi tụ họp, đó là ngày 25-3 (âm lịch). Ruộng dài (Nà Rì) cũng là tên của cả huyện Na Rì (Bắc Kạn) ngày nay.



Anh Trương Văn Bản, dân tộc Tày, xã Liêm Thủy, huyện Na Rì chia sẻ: Mình và cô ấy đều đã có gia đình rồi. Mình muốn gặp lại bạn cũ để xem cô ấy sống có vui, có hạnh phúc như mình không thôi. Nếu cô ấy cũng vui, cũng hạnh phúc như mình thì mình cũng vui mà.

Còn bà Triệu Thị May, dân tộc Nùng, xã Xuân Dương nay đã gần 70 tuổi cho biết, năm nào bà cũng đến chợ tình, vừa để nhớ lại thời tuổi trẻ bà cũng từng có mối tình đẹp ở đây, nhưng hai người do duyên số không đến được với nhau, vừa để xem chợ tình có sự thay đổi ra sao so với trước đây.

Nét văn hóa trong cộng đồng người Tày, Nùng



Chợ tình Xuân Dương đã xuất hiện trong cộng đồng người Tày, Nùng ở Xuân Dương (Na Rì) từ bao đời nay và nó đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc nơi đây. Cứ vào dịp 25/3 (âm lịch) hằng năm, không chỉ là nam thanh nữ tú từ khắp các bản làng trong huyện mà bà con vùng lân cận của Lạng Sơn, Thái Nguyên... cũng tưng bừng về dự hội.

Trước ngày phiên chợ tình họp, ai cũng mong mỏi để được đến với chợ tình, những đôi trai gái lựa chọn cho mình những bộ trang phục dân tộc đẹp nhất để được chú ý, được mời hát giao lưu. Chợ tình là nơi hẹn hò của biết bao đôi trai gái đang yêu, là nơi hẹn gặp lại của những cặp tình nhân trước đây vì lý do nào đó họ không lấy được nhau nay hẹn gặp để chia sẻ, cảm thông cho nhau. Chợ tình còn là nơi giao lưu văn hóa giữa cộng đồng các dân tộc, giúp họ gắn kết với nhau hơn.



Đến với chợ tình Xuân Dương, khách thập phương sẽ được thưởng thức các làn điệu then, sli, lượn, đàn tính trữ tình ngọt ngào, đặc sắc và được thưởng thức văn hóa ẩm thực của người Tày, Nùng với các món ăn lạ mắt mà đậm hương vị của núi rừng Xuân Dương như: thắng cố, mèn mén, thịt treo, bánh trứng kiến, bánh khảo, bánh lá ngải... Đặc biệt, du khách sẽ được tham gia những trò chơi dân gian như: đẩy gậy, kéo co, rày cỏ, đánh cù , tung còn, đi cà kheo... Những nét văn hóa này đã và đang góp phần tạo nên một không gian văn hóa muôn màu sắc đậm đà bản sắc dân tộc Tày, Nùng nơi đây.

Ông Đàm Đình Trưởng, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Na Rì cho biết: Chợ tình Xuân Dương là nét văn hóa độc đáo của bà con dân tộc nơi đây, tuy nhiên do ảnh hưởng của văn hóa hiện đại, nhiều nội dung của chợ tình đã bị mai một. Chúng tôi đang cố gắng khôi phục và gìn giữ những nét đẹp văn hóa vốn có của chợ tình để không bị trộn lẫn, biến tướng. Chợ tình còn là nơi để các thế hệ trước truyền lại, giáo dục truyền thống của dân tộc mình cho thế hệ sau, giúp họ giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.



Anh Hoàng Đình Quân, du khách đến từ Thái Nguyên cho biết: Chợ tình Xuân Dương có nhiều nét độc đáo, hấp dẫn, năm nào gia đình tôi cũng rủ nhau đi chợ tình. Đến đây được thưởng thức các món ăn dân tộc, thưởng thức văn hóa bản địa như được hòa quyện với thiên nhiên núi rừng nơi đây.

Chiều tà, trên các ngả đường về, bên đồi sim, từng đôi trai gái lưu luyến chia tay nhau bằng những điệu then, câu hát giao duyên, sli, lượn. Họ uống với nhau những chén rượu ngô men lá thơm nồng để hẹn gặp nhau ở phiên chợ sau. Cảnh vật, con người như muốn níu chân du khách, làm cho họ không nỡ rời xa nơi đây.

Du lịch, GO! - Theo Báo Tin Tức + ảnh internet

Đền Thắm (Bắc Kạn)


Đền Thắm thuộc vùng đất Chợ Mới - Cây Thị (nay là thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn) từ lâu đã trở thành địa chỉ du lịch tâm linh của hàng vạn lượt du khách trong và ngoài tỉnh mỗi năm trong hành trình "tĩnh tâm về với cội nguồn", nhất là dịp đầu xuân mới.

Đền Thắm là khu di tích lịch sử - văn hóa - danh lam thắng cảnh có bề dày lịch sử được phật tử, nhân dân và du khách thập phương ngưỡng mộ. Nằm cách thị xã Bắc Kạn gần 40 km về hướng nam, trong không gian thơ mộng, phía trước đền là dòng sông Cầu nước trong xanh, hiền hòa uốn lượn, sau đền là vách đá sừng sững của dãy Thông Khuông uy nghi.

Những năm gần đây, đền là điểm đến thu hút du khách thập phương đông nhất, nằm trong chuỗi du lịch tâm linh từ huyện Chợ Mới lên thị xã Bắc Kạn với điểm đến đầu tiên là Đền Thắm, chùa Thạch Long, đền Thác Riềng (thuộc huyện Chợ Mới) rồi đến đền Cô, đền Mẫu (thuộc thị xã Bắc Kạn).



Đền Thắm tương truyền là ngôi đền linh thiêng, thờ nữ tướng tên Thắm, một cô gái miền sơn cước xinh đẹp, giàu lòng nhân ái, dũng cảm đứng lên chống giặc.

Cô Thắm có cha làm nghề chài lưới bên sông Cầu. Càng lớn cô Thắm càng xinh đẹp, nết na, chính vì thế tên chúa Mường đã dùng quyền lực ép cô về làm vợ. Không cam chịu cay đắng và tủi nhục với tên chúa Mường tàn nhẫn, tham lam. Nhất là khi tên chúa Mường làm tay sai cho giặc tàn sát dân lành. Cô Thắm đã rời bỏ nhà chúa Mường, tập hợp dân nghèo đứng dậy đánh giặc. Cô Thắm đã chỉ huy đội quân nông dân của mình đánh tan giặc, nhưng chính cô đã bị trúng tên độc của giặc, hy sinh. Để tưởng nhớ nữ tướng dũng cảm, thương yêu người nghèo, người dân Chợ Mới đã lập đền thờ cô Thắm trên nền nhà của bố con cô.



Theo ghi chép của địa phương, đền được xây dựng đơn sơ từ rất lâu, sau đó vào khoảng năm 1929-1930, nhà buôn gỗ Nguyễn Cả Mùi, sau một lần bị mưa lũ làm vỡ mảng, trôi bè, tưởng không thể tìm lại được nhưng khi bè gỗ đến trước đền Thắm thì được cản lại. Như có điềm báo về một sự linh thiêng, một sự cứu giúp của cứu thế. Thấy đền thiêng, lại ở nơi sơn thủy hữu tình, ông đã bỏ tiền của của mình, đồng thời quyên góp của người dân địa phương để xây dựng đền Thắm bây giờ. Cứ vào dịp Tết, lễ, ngày rằm, mùng một, người đến Đền nhộn nhịp, vừa để thắp hương tưởng nhớ một cô Thắm nhân từ, một nữ tướng dũng cảm, cũng là để tận hưởng khung cảnh hữu tình, không khí trong lành của chốn bồng lai miền sơn cước. Cô Thắm đã đi vào cõi tâm linh các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao... quần cư tại khu vực này.



Trải qua thời gian, qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đền Thắm từng chứng kiến những thăng trầm của lịch sử, khi là trạm gác tiền tiêu của các cơ sở quân sự, khi được dùng làm văn phòng của Ủy ban Kháng chiến Chợ Mới. Kiến trúc của đền đã có một vài lần được trùng tu, nhưng vẫn giữ vẻ nguyên thủy đến ngày nay, thể hiện sự uy nghi và trang nghiêm nhưng không quá cầu kỳ, gồm: Đền Mẫu, đền Cô và khu vực thờ Phật.

Đền Thắm có 4 ngày lễ chính là Lễ Thượng nguyên (2/2 âm lịch) là lễ hội lớn nhất hằng năm; lễ vào hè (10/3 âm lịch); lễ ra hè (10/7 âm lịch). Hằng năm vào 20/2 (âm lịch) thường có vấn hầu đặc biệt.

Du lịch, GO! - Theo báo Tintuc, internet

Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Bắc Kạn)


Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ thuộc huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, có diện tích trên 14.000ha, trải dài từ các xã Vũ Muộn, Cao Sơn (huyện Bạch Thông) tới các xã Lương Thượng, Ân Tình, Côn Minh (huyện Na Rì), là nơi lưu giữ được hiện trạng nguyên sơ của thiên nhiên kỳ thú cùng với một hệ sinh thái động, thực vật phong phú và đa dạng, với rừng trên núi đá vôi, biểu trưng cho giá trị độc đáo của vùng Đông Bắc Việt Nam.

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ được các nhà khoa học trong và thế giới đánh giá cao về sự phong phú của nhiều loại động, thực vật quý hiếm thuộc diện phải được quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt. Trong đó phải kể đến là loài voọc má trắng, sóc, khỉ thuộc những loài hiện có nguy cơ bị tuyệt chủng trên toàn cầu. Đặc biệt, đến với khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ bạn sẽ được chứng kiến sự đa dạng của loài dơi ở đây - được coi là đa dạng thành phần cao nhất Việt Nam.

Kim Hỷ còn là nơi lưu giữ một số nguồn gien quý hiếm của các loại thực vật đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng như cây thiết san giả hay còn gọi là thông đá mà trên thế giới hiện nay còn sót lại ở 4 tỉnh miền núi phía Bắc nước ta và 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc). Không những thế, đây còn được coi là kho gỗ quý lớn của tỉnh Bắc Kạn với hàng vạn cây nghiến, thông núi.

Ngoài động thực vật, khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ còn giàu về tài nguyên khoáng sản, nhất là vàng. Đến với Kim Hỷ, bạn có thể khám phá hệ sinh thái phong phú, mạo hiểm vào rừng theo con đường mòn ngoằn ngoèo giữa rừng sâu, tìm hiểu và khám phá nơi ấn náu của các loài động vật hay phát hiện ra những thân cây gỗ quý đồ sộ. Thú vị hơn nữa là khi bạn ngồi nghỉ dưới tán cây rừng, thưởng thức bản hòa ca của chim muông, gió ngàn.

Giàu tài nguyên nhưng Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ ở tỉnh Bắc Cạn không chỉ bị tàn phá bởi nạn khai thác vàng trái phép, mà lâm sản quý hiếm được xếp vào loại cần bảo vệ nghiêm ngặt cũng liên tục bị chặt hạ với mức độ ngày càng tàn khốc.

Cheo Leo Đèo Gió (Bắc Kạn)


“Đèo Gió là nơi cao nhất của Bắc Kạn nối với Cao Bằng. Quanh năm sương phủ. Buổi sáng nếu đi xe là chìm trong mây. Cũng là nơi heo hút và nghèo lắm…” – Lời giới thiệu của chị bạn đồng nghiệp quê hương Cao Bằng văng vẳng bên tai khi chúng tôi đặt chân lên Đèo Gió.

Chỉ nghe đến hai tiếng đèo Gió đã thấy không khí trong lành và mát mẻ. Suốt chuyến đường dài từ Bắc Kạn đi men theo những con đường ven núi quanh co, Đèo Gió hiện ra mờ mờ ảo ảo…

Đèo Gió thuộc huyện Ngân Sơn (Bắc Kạn), nơi mà nhiều du khách dừng chân. Đứng trên đỉnh đèo ta như đứng trên một không gian mênh mông, kỳ vĩ. Nhìn xuống bên dưới là đèo là con đường quốc lộ 3 nối liền giữa hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng.



Lác đác những mái nhà của bà con dân tộc phía chân núi, chiều tối những làn khói bếp tỏa lên như những làn sương đến đẹp lạ kỳ.

Một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ mà hầu hết du khách nào đi qua cũng phải dừng chân thưởng thức không khí trong lành và phong cảnh rừng núi tuyệt đẹp.

Trên đỉnh đèo có nhiều nhà hàng phục vụ các du khách, đặc sản nơi đây là những bình rượu ngô thơm nồng, các loại rượu được ngâm bằng nhiều cây thuốc lấy từ trong rừng về, măng ớt được coi là một món đặc sản của người dân địa phương…

Đến mùa lê dọc đỉnh đèo bày bán đầy ắp những rỏ lê chín vàng, ngọt mát đến dịu cả người khi vào những buổi trưa hè oi ả. Mật ong cũng là thứ đặc sản quí hiếm, những chai mật ong đặc sánh, vàng óng, ngọt lịm và có mùi thơm thật dễ chịu…

Mùa đông thì có những bắp ngô ngọt được luộc nóng hổi làm ấm áp lòng người…


Vượt một chặng đường xa đi từ Bắc Kạn đến Cao Bằng hầu hết các du khách đều dừng chân bên đỉnh đèo Gió. Đặc biệt vào mùa hè được rửa mặt bằng nước từ khe núi đá chảy xuống thật sảng khoái. Được thưởng thức những món ăn truyền thống thật ngon miệng như: rau ngót rừng, rau bồ khai, nhộng ong xào măng chua, thịt trâu khô xào tỏi, đặc biệt mùa đông giá rét ăn món khau nhục thật là ngon, món ăn này được làm từ khoai môn và thịt ba chỉ, là món ăn truyền thống của người dân Bắc Kạn được bày trong các dịp lễ hội…




Là con đèo cao nhất của huyện Ngân Sơn, đèo Gió đã được nhiều du khách thập phương biết đến. Đặc biệt sẽ được ngắm những cánh hoa đào, hoa mận trắng hồng vào dịp xuân về. Một mùa xuân đang đến những cánh hoa đang e ấp chào đón xuân về !

Khắp bản làng sẽ rộn rã tiếng cười, những khói lam chiều của mùi xôi nếp và thịt lợn nướng. Những người dân địa phương nơi đây sẽ đón một mùa xuân thật ấm áp và tràn đầy hạnh phúc.


Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Baomoi, Báo Haiphong và nhiều nguồn khác.

Chùa Thạch Long (Bắc Kạn)


Chùa Thạch Long (Rồng đá) thuộc xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây được mệnh danh là “chùa thiêng trong hang đá”. Ngôi chùa chứa trong mình nhiều sự tích, huyền sử đẹp.
Chùa Thạch Long thu hút hàng ngàn khách thập phương tới dự hội và dâng hương cầu phúc, cầu tài mỗi dịp xuân về. Nhiều người nói rằng, đi khắp Bắc chí Nam chưa thấy chùa nào nằm trong hang núi đá rộng, sạch mà thoáng như chùa Thạch Long. Tăng ni Phật tử tới dự hội có thể vào hang lễ Phật tới hàng ngàn người.



< Đường lên chùa.

Chuyện kể rằng, ngày xưa, người dân xã Vi Hương - Bạch Thông xuôi dòng sông Cầu rước tượng Phật Thích Ca về thờ ở làng mình là Hoa Sơn, trên đỉnh dãy núi Phja Bjoóc.

Tượng Phật bằng vàng rất nặng nên khi ngược lên Vi Hương phải kéo bằng mảng. Đến vằng Bó Mi thuộc xã Cao Kỳ ngày nay, mảng cứ xoay tròn không sao đi được. Trời đã tối, đêm ấy, người đi rước tượng phải căng lều ngủ tại vằng Bó Mi để hôm sau tính tiếp.



< Chùa Thạch Long nằm trong lòng núi đá.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, họ hốt hoảng không thấy Đức Phật đâu. Người đi rước tượng đành thắp một bó nhang to và khấn: “Nếu ngài muốn ở đây thì con đành thuận theo ý ngài, nhưng ngài hãy cho con biết nơi ngài đang thượng tọa để con cháu đời sau thờ phụng hương khói”. Dứt lời, bó nhang cuộn khói bay sang bên kia bờ sông, luồn mãi vào trong núi. Người rước tượng cứ đi theo khói nhang ấy và phát hiện ra một hang động tuyệt đẹp, rộng thênh thang. Đức Phật Thích Ca đã ngự tọa ở chốn cao nhất.

Biết hang đá thiêng, từ đó dân làng lập chùa ngay tại hang đá này. Chùa có tên Thạch Long (con rồng đá) là vì hang động nằm trong núi đá, cổng hang có hình miệng con rồng đang há.



< Một góc phía trong chùa.

Chùa có hai phần chính. Phần thứ nhất là chùa Thiên. Chùa này nằm ở trên cao, có một bậc đá xếp từ chân núi dẫn thẳng lên tới cửa động. Gian cao nhất thờ Đức Phật Thích Ca. Ở gian trung, trên bệ cao nhất có ảnh thờ Bác Hồ.



Phần thứ hai của chùa là chùa Âm, đường đến chùa Âm phải đi vòng quanh sườn núi. Cửa vào chùa Âm hẹp hơn chùa Thiên một chút. Lòng hang cũng không rộng bằng chùa Thiên. Ước chừng cao khoảng 6m, rộng 6m và có ngách ăn sâu vào bên trong.

Cả chùa Thiên và chùa Âm đều có nhiều tượng thiên tạo hình các Chư Phật. Trong lòng chùa Thiên, vách đá tự chia thành từng múi như những chiếc lọng cao và sang trọng che cho các vị Chư Phật ngồi dưới.



Không chỉ chứa trong mình nhiều huyền tích, chùa Thạch Long còn là một di tích lịch sử, là niềm tự hào của bà con xã Cao Kỳ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã 3 lần đến đây. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chùa trở thành trạm vận chuyển vũ khí và là kho vũ khí bí mật của quân đội ta. Hoà bình lập lại, chùa lại được bà con thờ tự như xưa.



< Hội chùa Thạch Long được tổ chức hàng năm.

Hội chùa Thạch Long được tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng hằng năm, thu hút rất nhiều du khách thập phương, họ đến để dâng hương cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và người thân.

Chùa Thạch Long không những là thắng cảnh đẹp của Bắc Kạn, mà còn là một di tích lịch sử. Di tích này đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, bảo vệ, tôn tạo để trở thành điểm du lịch văn hoá hấp dẫn của tỉnh Bắc Kạn.

Theo Vũ Thuý (Cổng TTĐT Bắc Kạn) + Ảnh internet
Du lịch, GO!

Đảo Bà Góa (Bắc Kạn)


Khi đi du lịch đến Hồ Ba Bể ở Bắc Kạn, bạn sẽ nhìn thấy trong hồ có hai hòn đảo nhỏ, một là đảo An Mã. Hòn đảo nhỏ còn lại lô nhô đá và cây xanh, cách bến chính khoảng 300m. Đây chính là đảo Bà Góa.

Đảo Bà Góa (tiếng người địa phương gọi Pò Giả Mải) là một hòn đảo nhỏ xinh xắn nằm giữa hồ 1 (Pé Lèng) của hồ và được gắn liền với sự tích Ba Bể. Đảo là nơi thú vị để dừng chân cuối cùng trong chuyến du ngoạn và để chiêm ngưỡng cảnh đẹp lộng lẫy của trời mây non nước hòa quyện tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình có một không hai của danh thắng này.



Đảo được tạo thành bởi những phiến đá to nhỏ xếp chồng lên nhau, cây cối trên đảo xanh tốt quanh năm, rễ cây buông xuống ôm lấy những phiến đá.

Nhìn từ xa, đảo như một hòn non bộ giữa mặt hồ. Trên đảo có bia đá khắc năm Khải Định thứ 9. Đây là hòn đảo nhỏ nhưng tuyệt đẹp với khu hệ thực vật phong phú như một điểm nhấn cho vẻ đẹp tự nhiên của cả một khu vực.

Truyền thuyết kể lại rằng ngày xưa vào dịp lễ hội Vô Giá trong vùng, dân bản Năm Mẫu thấy con bò lạc liền xẻ thịt chia nhau. Hai mẹ con bà góa nghèo cuối bản cũng được phần là chiếc đuôi và miếng da bé tẹo. Có bà lão ghẻ lở, rách rưới, hôi hám đến dự hội và xin ăn nhưng bị mọi người xua đuổi.



Đến cuối làng mới gặp được một căn nhà nhỏ của 2 mẹ con người đàn bà góa tốt bụng. Người ăn mày được tiếp đãi tử tế, mới bảo bà góa lấy trấu rắc quanh nhà. Đến nửa đêm mưa to gió lớn, người ăn mày biến mất, cả một vùng rộng lớn sụt xuống thành một cái hồ lớn nay gọi là hồ Ba Bể. Riêng ngôi nhà của 2 mẹ con là còn nguyên vẹn, thành cái đảo nhỏ này, nay gọi là đảo Bà Góa.

Đến đây, khách du lịch không nên bỏ qua cơ hội được ngâm mình trong làn nước xanh ngắt và mát lạnh của một bãi tắm mà thiên nhiên đã tạo dựng từ hàng ngàn năm qua, lại được che mát bởi các cây cổ thụ mọc trên đảo.

Du lịch, GO! tổng hợp

vẻ đẹp ruộng bậc thang Pác Nặm (Bắc Kạn)


Cũng như người dân vùng cao ở Yên Bái, Hà Giang, người dân ở Pác Nặm (Bắc Kạn) đã khai phá những quả đồi để làm ruộng bậc thang cấy lúa. Đến với huyện Pác Nặm (Bắc Kạn) du khách không chỉ bị hấp dẫn bởi nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc của các dân tộc vùng cao mà còn bị mê đắm trước vẻ đẹp của những cung ruộng bậc thang nằm vắt ngang các sườn đồi.

Pác Nặm là một huyện vùng cao với đa số người dân là đồng bào các dân tộc thiểu số, đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Do địa hình chủ yếu là đồi núi nên đất sản xuất nông nghiệp luôn là vấn đề quan trọng số một đối với người dân nơi đây. Khắc phục điều này bằng sự cần cù và sáng tạo của mình ở nhiều nơi trên địa bàn huyện Pác Nặm người dân đã bạt đất, đá tạo thành những thửa ruộng bậc thang uốn quanh các sườn đồi. Vì vậy, ở đây, những thửa ruộng bậc thang vừa là nơi cung cấp nguồn lương thực chủ yếu, vừa mang lại vẻ đẹp cho mỗi vùng quê.



Đi theo Tỉnh lộ 258B, ngay ở cửa ngõ của huyện Pác Nặm, du khách đã được chiêm ngưỡng những cung ruộng bậc thang kỳ vĩ mang vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc. Đặc biệt là tại đỉnh đèo Kéo Điếp, phóng tầm mặt xuống du khách mới thấy hết sự kỳ vĩ và nên thơ của những thửa ruộng bậc thang ôm trọn những quả đồi.
Dulichgo
Ruộng bậc thang ở Pác Nặm đã có từ rất lâu và nhiều đời nay, người dân nơi đây vẫn canh tác và không ngừng mở rộng các thửa ruộng. Ruộng bậc thang ở Pác Nặm mang một vẻ đẹp huyền bí cùng những ý nghĩa sâu sắc về sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.



Ông Ma Văn Tuấn, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Pác Nặm, cho biết Pác Nặm là một trong 60 huyện nghèo nhất trong cả nước. Nằm cách xa trung tâm tỉnh hơn 90km về phía Bắc, đường giao thông đi lại ở đây khó khăn chủ yếu là dốc núi. Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là gần 47.540ha, nhưng mới chỉ có gần 4.410ha đất nông nghiệp, chiếm 9,3%; trong đó đất trồng lúa cả năm là 1.882ha.

Nhờ tận dụng, khai phá đất đai tốt cộng với thâm canh tăng vụ nên sản lượng lương thực của huyện đạt hơn 20.200 tấn, bình quân lương thực đạt 633 kg/người/năm. Bình quân hàng năm tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm từ 4% trở lên.



Do địa hình cao, nếu san cả một quả đồi chỉ bằng sức người để làm ruộng là điều không thể. Vì thế, người dân vùng cao đã nghĩ ra cách bạt đất theo bậc tam cấp để làm ruộng. Mỗi hòn đất, mỗi thửa ruộng chứa biết bao mồ hôi, công sức, thể hiện trí tuệ, trình độ canh tác lúa nước của người dân vùng cao. Việc làm bậc tam cấp giúp người dân tận dụng tối đa diện tích triền đồi và giảm hiện tượng rửa trôi, cũng như sạt lở đất canh tác.
Dulichgo
Không giống như miền đồng bằng, các cánh đồng có hệ thống kênh mương đến tận ruộng, ở vùng cao dẫn được nước, giữ được nước trên ruộng bậc thang là cả vấn đề. Để có nước sản xuất, người dân phải đào mương dẫn nước dọc các triền đồi hoặc dùng hệ thống máng tre, nứa đưa nước về.



Do phụ thuộc nhiều vào nguồn nước tự nhiên nên việc sử dụng tiết kiệm nước vào mùa khô là điều quan trọng nhất đối với việc canh tác trên ruộng bậc thang. Theo trình tự, nước được đưa về thửa ruộng cao nhất, sau đó cho chảy xuống thửa tiếp theo và cho đến thửa cuối cùng.

Về mùa mưa, để tránh ruộng bị rửa trôi mạnh hoặc bị sạt lở, người dân không đắp bờ cao mà để dòng nước tràn từ thửa này xuống thửa khác. Trung bình mỗi hộ dân Pác Nặm có từ 3-5 thửa ruộng, thửa rộng có diện tích lên đến 1.000-2.000m2, thửa bé chỉ vài chục m2. Sự phụ thuộc vào nhau trong quá trình sử dụng nước để canh tác ruộng bậc thang giúp tăng cường tính gắn kết cộng đồng. Khi hệ thống mương, máng dẫn nước bị hỏng, người dân trong thôn lại cùng nhau nạo vét, tu sửa.



Anh Lý Văn Sinh, dân tộc Mông, xã Công Bằng, huyện Pác Nặm cho biết: Gia đình có hơn 2ha chủ yếu là ruộng bậc thang, những thửa ruộng này được cha ông để lại, mỗi năm cấy một vụ lúa cũng đủ ăn. Nhiều gia đình còn trồng ngô, đậu đỗ trên những thửa ruộng bậc thang. Người dân ở đây rất quý trọng và giữ gìn những thửa ruộng bậc thang của mình.
Dulichgo
Vào mùa lúa chín, giữa mênh mông núi rừng hình ảnh các sơn nữ nhanh tay gặt những bông lúa chín vàng bên những cung ruộng bậc thang uốn lượn tạo nên vẻ đẹp riêng của miền sơn cước Pác Nặm.



Theo ước tính của lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Pác Nặm, toàn huyện có hơn 1.500ha đất trồng lúa thì đất ruộng bậc thang chiếm khoảng 50-60%. Với sự hỗ trợ của máy móc việc khai hoang tạo ruộng bậc thang của người dân Pác Nặm đã bớt vất vả hơn. Các chính sách hỗ trợ sản xuất, tập huấn kỹ thuật đã giúp nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế của ruộng bậc thang. Người dân Pác Nặm coi trọng và tự hào về những thửa ruộng bậc thang mà mình đang có.

Những thửa ruộng bậc thang không chỉ là nơi cung cấp lương thực mà còn cho thấy ý chí vươn lên, khát vọng ấm no và trình độ, sự sáng tạo trong lao động sản xuất của người dân vùng cao. Ngoài ra, đây cũng là thắng cảnh tuyệt đẹp trong mắt người du lịch.

Theo Mạnh Hà (VietnamPlus)
Du lịch, GO!

Đặc sản tôm chua Hồ Ba Bể (Bắc Kạn)

Tôm, cá sau khi đánh bắt về, ngoài việc chế biến theo các phương thức thông dụng thường ngày như luộc, rán, nướng… người Tày ở khu vực hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn còn có cách chế biến tôm cá rất đặc biệt, tạo ra được hương vị rất riêng, đó là món tôm chua, cá chua. 
Ngày nay, nghề làm tôm chua, cá chua đang ngày càng có xu hướng phát triển ở vùng hồ Ba Bể. Dọc theo các triền sông, suối người dân đánh bắt tôm, cá về chế biến. Đặc biệt, đó phải là tôm sông, cá sông mới cho ra những hương vị đậm đà, riêng biệt mà không nơi nào có. Khi đánh bắt được các mẻ tôm sông, cá sông, người dân lựa chọn những con còn nguyên vẹn, đều nhau, với cá thì đem cắt khúc còn tôm thì để nguyên rồi làm tiến hành quy trình chế biến.

Những khúc cá to và tôm được trộn mẻ, giềng, bột thính, và các gia vị đặc biệt khác rồibịt kín lại đem ủ, sau một thời gian người dân mang ra nấu ăn. Tôm cá lúc này ăn rất thơm, mềm mà lại có vị chua ngọt riêng. Điều đặc biệt hơn là do ủ lâu, ngay cả xương cá cũng rất mềm nên khi nấu ăn người ta có thể ăn cả xương và thịt không phải bỏ thứ gì.

Tôm chua vùng Bắc Kạn
Tôm chua ăn kèm với rau thơm và thịt luộc


Sau một thời gian, khi tôm cá đã ngấm đủ gia vị, lên men, người ta sẽ lấy tôm chua, cá chua từ hũ ra. Những ai đã được thưởng thức món này thì chắc hẳn sẽ không thể quên được hương vị đậm đà, mùi thơm của giềng thêm cả vị ngọt mềm chua dìu dịu, ăn cùng với cơm nấu bằng gạo nương thì đến cả người khó tính nhất cũng phải gật gù tán thưởng, ăn không biết chán.

Tôm chua vùng Bắc Kạn
Tôm chua vùng hồ Ba Bể


Bình thường, người ta hay chưng tôm chua, cá chua lên với thịt băm và trộn thêm giềng giã nhỏ chưng lên nhưng cần chú ý là nếu cho nhiều thịt băm và giềng sẽ mất đi hương vị riêng của tôm chua, cá chua vùng hồ Ba Bể. Tôm chua có thể ăn cùng với các loại rau sống, rau rừng, thịt luộc, … rất kích thích vị giác khiến cho người ăn thêm ngon miệng. Không giống với tôm chua vùng biển hay xứ Huế với vị ngọt gắt của đường, chua cay nồng nàn của ớt giềng, tôm chua, cá chua vùng hồ Ba Bể cũng vị ngọt, chua, cay nhưng lại tự nhiên, hương vị ngọt dìu dịu, lại có vị chua thanh, hơi cay cay nhưng lại vô cùng đậm đà và riêng biệt.

 Tôm chua có thể ăn cùng với các loại rau sống

Hiện nay, cứ khoảng 5 ngày lại có một phiên chợ bày bán tôm chua tại chợ Khang Ninh, trên đường vào hồ Ba Bể. Người ta thường ăn tôm chua với thịt ba chỉ luộc thái mỏng, kèm với khế chua, chuối chát, đọt đinh lăng chỉ, nem thính tai heo, rau sống, rau rừng… Giữa khung cảnh thiên nhiên, non xanh nước biếc của vùng Ba Bể, được nhấm nháp miếng tôm chua, nhâm nhi thêm vài cốc nhỏ rượu ngô, du khách sẽ cảm nhận được hương vị đậm đà của thịt ba chỉ, vị cay nồng, lừng lựng của tỏi ớt, vị thơm của giềng, hòa chung với vị ngọt dịu, thấm đẫm của tôm chua thật vô cùng hấp dẫn.

Tôm chua vùng Bắc Kạn
Tôm chua Ba Bể lưu giữ bước chân thực khách


Bên cạnh những món đặc sản khác của vùng cao Bắc Kạn như gà đồi, nếp Tày, nấm hương, miến dong, cơm lam và khoai môn, tôm chua, cá chua có thể nói là đặc sản đặc trưng nhất của vùng hồ Ba Bể./.
nguồn Mytour.vn