Showing posts with label Văn Hóa. Show all posts
Showing posts with label Văn Hóa. Show all posts

Friday, January 1, 2016

Cách cắm Hoa Đào tết hợp phong thủy

Cách cắm đào TếtVới mỗi gia đình miền Bắc, màu hồng phai hay thắm của những cành đào không bao giờ thiếu mỗi khi Tết đến Xuân về. Nhưng cách cắm hoa, chăm hoa và cả hướng đặt bình nếu như làm theo đúng phong thủy, bạn đã mang cát lợi cho cả 365 ngày.
 
Hôm nay, mình sưu tầm được một số cách cắm và chăm sóc hoa theo phong thủy xin được giới thiệu với các bạn với mong muốn chúng ta trước tiên sẽ có một bình hòa đẹp trog ngày tết, thứ 2 là một chút tâm linh mang lại may mắn cho bạn gia đình trong năm mới... :)!

Hướng bình đào theo con giáp
- Nếu là năm Tý, Thìn, Thân nên đặt bình đào theo hướng Tây
- Nếu là năm Ngọ, Tuất, Dần nên đặt bình đào theo hướng Đông
- Nếu là năm Dậu, Sửu, Tỵ nên đặt bình đào theo hướng Nam
- Nếu là năm Mão, Mùi, Hợi, nên đặt bình đào theo hướng Bắc.

Mai vàng ngày tết
Mẹo chăm sóc đào theo phong thủy:
- Nên cho nước vào bình đào vừa phải, đừng để ít hay nhiều quá. Và cần nhớ thay nước cho đào để hoa luôn tươi. Màu sắc và độ bền của hoa đào cũng ảnh hưởng nhiều đến hòa khí, tình yêu, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là vợ chồng.
- Hạn chế dùng hoa đào giả làm bằng giấy, nhựa, thủy tinh.
- Cần phải vứt hoa đi trước khi hoa héo ngay trong chính nhà bạn vào đầu năm mới. Trong phong thủy, nếu đầu năm mà chứng kiến hoa héo, trong nhà có sự chia cách hoặc tranh chấp.
- Màu sắc của bình cắm đào cũng nên theo phong thủy. Nếu đặt bình về hướng Bắc nên chọn màu xanh da trời, màu đen; Nếu đặt bình về hướng Đông Nam hay Đông nên chọn bình màu xanh ngọc, xanh lá cây; Nếu đặt bình phía Nam nên chọn bình màu đỏ hoặc tím; Nếu đặt bình hướng Tây, Tây Bắc nên chọn bình màu vàng hoặc trắng; Tây Nam và Đông Bắc nên sử dụng bình màu vàng nâu.

Thursday, December 31, 2015

Phong tục tết của người Mông ở Kì Sơn- Nghệ An

Lên Kỳ Sơn vào dịp cuối năm này, tôi dành nhiều thời gian tìm  hiểu phong tục Tết của người Mông ở Kỳ Sơn và đã có hai ngày đêm về các bản Trường Sơn, Tiền Tiêu (xã Nậm Cắn), bản Sơn Hà (xã Tà Cạ) là những bản thuần dân tộc Mông.

Theo các già bản cho biết, nay bà con đã tự nguyện đón Tết cổ truyền dân tộc trùng với Tết Nguyên đán như người Kinh. Trước đây, Tết của người Mông cũng theo lịch thời vụ của nhà nông, theo các tuần trăng như Âm lịch, có khác là người Mông không tính theo năm nhuận nên thời gian có xê dịch trong khoảng 1 tháng. Nay chuyển thời gian theo Tết Nguyên đán có thuận lợi là việc học tập, công tác của con em không bị ảnh hưởng mà phong tục Tết vẫn được bảo tồn.




Trang phục dân tộc của thiếu nữ Mông. Ảnh: P.V
Trong phong tục Tết của người Mông, các gia đình dùng ngọn tre quét trong nhà để xua hết mọi điều không may. Trong 3 ngày Tết không ai được quét nhà. Sau lễ này còn có lễ Hạp Kỳ (gọi vía) cho người già cũng rất quan trọng, giống như lễ mừng thọ ở miền xuôi. Đây là một phong tục đẹp, như là dịp con cháu tỏ lòng hiếu thảo, tạ ơn các đấng sinh thành nhân dịp năm mới. Trong lễ gọi vía bắt buộc phải có một đôi gà có cả trống cả mái, một con lợn, sau lễ giết thịt gà trống bày lên cỗ cúng tết, còn để xem chân, đầu gà… để biết những điều may mắn hoặc không may trong năm mới. Qua tìm hiểu được biết, lễ tạ ơn (gọi vía) này đều có ở các dân tộc khác như Thái, Khơ mú… Nhưng khác với dân tộc Mông, lễ gọi vía của đồng bào dân tộc Khơ mú, Thái phải có thêm đĩa xôi, 2 vò rượu cần, những gia đình có điều kiện còn thêm bạc nén, vòng cổ, vòng tay, quần áo mới…, cuối lễ còn có tục buộc chỉ cổ tay.

Theo ông Hờ Chống Nhìa, Chủ tịch xã Nậm Cắn, trong những ngày Tết cổ truyền, các bản người Mông có nhiều trò chơi như ném pao (gần giống như ném còn của người Thái) chỉ khác là quả còn hình tròn, còn quả pao hình vuông. Trong hội thi ném pao, hai bên có cá cược bằng chính vật dụng trên người như vòng tay, vòng cổ, khăn, thậm chí cả quần áo. Sau hội, cả hai bên đều rất vui nhộn, thân mật với nhau. Ngoài hội ném pao còn có thi đẩy gậy, đi cà kheo, đánh cầu lông…, Riêng trò chơi đánh cầu lông mà quả cầu tự chế khá nặng, bên thua phải mang một bó củi sau lưng (nặng khoảng 10 kg), nếu thắng lại đổi cho bên thua phải mang trong thi đấu. Nay trò chơi này đã vắng bóng bởi đã có chơi cầu lông thông thường khá phổ biến.

Trong dịp Tết, người Mông cũng thường mời nhau đến nhà và đi thăm, chúc tết các gia đình thông gia, bạn bè. Trai gái thì tổ chức hội Gầu Tào để cùng hát giao duyên, tỏ tình bằng các làn điệu Cự Xưa, Lù Tẩu… cùng thổi khèn mời bạn xa đến. Nhiều đôi trai gái nên vợ chồng nhờ hội Gầu Tào này. Do ngày nay trai gái có dịp giao lưu nhiều hơn, các hủ tục như thách cưới giảm nhiều nên tục “cướp vợ” ở người Mông Kỳ Sơn cũng không còn nữa. Cùng với xu hướng đó, việc trai gái Mông mặc trang phục dân tộc trong các dịp lễ, tết cũng vắng dần. Lên miền Tây vào dịp lễ, tết khó gặp được thanh niên nam nữ các dân tộc ăn mặc theo phong tục truyền thống. Đây cũng là điều đáng buồn cần được ngành Văn hóa quan tâm.

Phong tục tết của người Nùng

Ngày đầu xuân người Nùng ở Tân Nguyên thường chọn ngày đẹp để lên đồi, xuống ruộng lao động sản xuất trong khí thế của mùa xuân mới tràn đầy niềm tin và hy vọng năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, thóc lúa đầy nhà, lợn đầy chuồng, mọi người mạnh khoẻ, bình an vô sự.




Chuẩn bị mâm cơm cúng chiều 30 tết.
Già làng Vi Đức Minh, thôn Đèo Thao, xã Tân Nguyên (Yên Bình) cho biết: Tết nguyên đán của đồng bào dân tộc Nùng chuẩn bị rất đầy đủ, chu đáo. Sau một năm trời làm việc vất vả, đây là dịp mọi người nghỉ ngơi, vui chơi, thăm hỏi và chúc tụng nhau những điều tốt lành. Các gia đình tụ họp bên bếp lửa hồng, cùng nhau chuyện trò bàn bạc và đánh giá thành quả của gia đình trong năm qua và bàn cách làm ăn trong năm tới.
Phong tục ăn tết của người dân tộc Nùng gần giống như người kinh. Người Nùng không làm lễ tiễn ông Công, ông Táo lên trời vào ngày 23 tháng chạp như người Kinh nhưng không vì thế mà người Nùng sửa soạn ngày tết kém rôm rả. Từ ngày 28 và 29 tháng Chạp, các gia đình rộn ràng làm các loại bánh để chuẩn bị cho những ngày tết. Ngày 30 tết là ngày quan trọng và đặc biệt nhất trong năm nên từ sáng sớm việc vệ sinh nhà cửa và đồ dùng trong nhà được mọi thành viên trong gia đình thực hiện rất khẩn trương.
Buổi chiều 30 tết, các thành viên trong gia đình đều tất bật chuẩn bị cho mâm cơm cúng tổ tiên và bữa cơm tất niên. Một thứ không thể thiếu trong mâm lễ cúng của người Nùng là món thịt gà sống thiến. Gà sống thiến thể hiện sự ấm no, sung túc của đồng bào dân tộc Nùng. Con gà này phải nuôi riêng từ trước tết vài tháng và cho ăn toàn bằng thóc. Các món khác không thể thiếu mà các gia đình tự làm là bánh chè lam, bánh lẳng, cơm lam. Bánh lẳng là món ăn được nhiều người ưa thích được làm cầu kỳ, trong suốt như mật ong, khi ăn được chấm với mật, mật được đun từ đường phên hoặc mật ong.
Tối 30, mọi gia đình tập trung làm cơm lam, bánh chè lam; thanh niên đến chơi tập trung ở một số nhà, sau đó đến khuya thì về nhà đón giao thừa. Đúng giao thừa, mọi nhà đều thắp hương và mở cửa để lộc vào nhà. Tùy theo từng dòng họ mà cách bài trí bàn thờ tổ tiên trong ngày tết cũng khác nhau nhưng nhìn chung là có gà, bánh chưng, mâm ngũ quả, bánh kẹo các loại và cây kim ngân làm bằng giấy màu vàng có hoa và hai cây mía thẳng và đẹp buộc đứng hai bên bàn thờ.
Sáng mùng một tết các gia đình dạy sớm làm mâm cơm cúng tổ tiên, mời tổ tiên ăn cỗ mừng năm mới và xin tổ tiên phù hộ cho con cháu, cho dòng tộc được hưởng mọi sự tốt lành. Người Nùng có tục mừng tiền cho các thành viên trong gia đình và cho trẻ con các nhà hàng xóm, bạn bè.
Trong những ngày tết, mỗi nhà thay phiên nhau làm cỗ, tụ họp anh em, gia đình, uống rượu và chúc nhau một năm dồi dào sức khỏe, gia đình hạnh phúc, làm ăn phát đạt. Thông thường đồng bào dân tộc Nùng tổ chức hoá vàng vào ngày mùng 2 tết. Các gia đình từ 3 - 4 giờ sáng đã đi lấy nước để đun pha trà và làm cơm cúng sớm để cầu nhiều điều may mắn sẽ đến trong năm mới.
Ngày đầu xuân người Nùng ở Tân Nguyên thường chọn ngày đẹp để lên đồi, xuống ruộng lao động sản xuất trong khí thế của mùa xuân mới tràn đầy niềm tin và hy vọng năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, thóc lúa đầy nhà, lợn đầy chuồng, mọi người mạnh khoẻ, bình an vô sự.

Phong tục tết Thanh Minh của người Sán Dìu

Tháng ba, tiết trời dịu nhẹ pha cái rét hanh hao như muốn nhắc trời còn xuân. Tháng ba cũng là tháng diễn ra nhiều ngày lễ truyền thống của Việt Nam: Tiệc mùng ba tháng ba thơm mùi bánh trôi “bảy nổi, ba chìm”, rồi ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba gợi nhắc con người nhớ về quê cha đất Tổ; và không thể quên ngày Tết Thanh minh mà đại thi hào Nguyễn Du đã viết:

“Thanh minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”




Cụ Nguyễn Thị Sinh làm bánh cúng tổ tiên trong ngày thanh minh. Ảnh Trang Linh


Ngày Tết Thanh minh người Việt thường đi tạ mộ (tảo mộ) để tưởng niệm hương hồn người đã khuất và sửa sang phần mộ vốn được coi là “nhà cửa” của tổ tiên và người thân. Việc chăm sóc, cúng bái nơi phần mộ thể hiện nét văn hóa tâm linh, phong tục tập quán của từng dân tộc. Nếu người Kinh ở một số nơi thường đi tảo mộ vào dịp cuối tháng Chạp với ý nghĩa mời ông bà, tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu; thì người Sán Dìu lại đi tảo mộ vào đúng dịp thanh minh ghi trong lịch âm để mong tổ tiên phù hộ cho con cháu sáng tỏa. thông minh như ý nghĩa của hai từ “Thanh minh”. Tùy vào từng năm, ngày Tết Thanh minh sẽ xê dịch khác nhau, nhưng thường rơi vào tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch. Đồng bào Sán Dìu rất coi trọng ngày Tết Thanh minh và tổ chức khá linh đình với nghi lễ mang bản sắc rất riêng. 

Chúng tôi tìm về thôn Bảo Phát, xã Hợp Châu (Tam Đảo) - nơi đa số là người dân tộc Sán Dìu sinh sống để tìm hiểu bản sắc riêng ấy trong ngày Tết Thanh minh. Cụ Lưu Đình Phong, một cao niên người Sán Dìu trong thôn đã kể cho chúng tôi nghe về ngày lễ của đồng bào mình với niềm tự hào và thành kính. Theo lời cụ, người Sán Dìu Tam Đảo có phong tục “nhất táng thiên thu” (người chết chỉ chôn một lần, không cải táng như phong tục của người Kinh), do vậy, việc chăm sóc “nhà cửa” của tổ tiên, ông bà, cha mẹ hàng năm rất được coi trọng. Dịp thanh minh hàng năm sẽ có một ngày chính (năm nay là ngày 14-3 âm lịch), trước hoặc sau 3 ngày (lấy ngày chính hội làm mốc), người Sán Dìu sẽ tụ họp con cháu đi tảo mộ. Trước ngày đi tảo mộ, người nhà đi kiếm lá lau xau trên rừng, chém nhỏ mang ngâm lấy nước, bỏ bã. Lấy một con dao cùn, nung đỏ rồi nhúng vào nước ngâm lá lau xau. Vo gạo nếp, để khô rồi ngâm gạo vào nước lá lau xau đã đun sôi. Sau đó lấy gạo đó mang đồ xôi. Xôi sẽ có màu đen, gọi là xôi đen. Nhưng ngày nay, lá lau xau rất khó kiếm nên người Sán Dìu đã thay bằng xôi đỗ. Có gia đình thì kỳ công lên rừng kiếm trứng kiến về thổi xôi trứng kiến để cúng tổ tiên với ngụ ý là mong muốn được con đàn cháu đống.

Mộ của người Sán Dìu thường không tập trung, có những mộ ở rất xa nên việc tảo mộ có thể mất cả ngày, thậm chí 2 ngày mới xong. Đến mỗi ngôi mộ, người Sán Dìu sẽ dọn sạch cỏ dại, đắp lại đất cho gọn gàng hoặc quét lại vôi cho mới. Sau đó treo 5 cán cờ nhỏ có dán giấy hình nhân với màu sắc rực rỡ ở 4 góc mộ và chính giữa mộ. Mộ nào có nhiều cờ hình nhân treo lên 5 cán thì chứng tỏ người đó có đông con, đông cháu. Mâm cơm cúng của người Sán Dìu ở mộ gồm có 5 nắm xôi, 5 con cá trôi trắng nướng, 5 chén rượu. Người già nhất trong gia đình sẽ đọc bài cúng thể hiện sự thành kính và cầu mong tổ tiên phù hộ cho con cháu có cuộc sống khỏe mạnh, đủ đầy. Khi hương tàn, tất cả mọi người ngả mâm quây quần cùng ăn ngay tại mộ, chuyện trò vui vẻ như muốn tri ân cùng người quá cố.

Ngày tảo mộ thì có thể trước, sau 3 ngày; nhưng đến ngày chính thanh minh thì mỗi gia đình lại tập trung con cháu làm cơm cúng tại nhà. Tại bàn thờ gia tiên thì cúng gà, xôi, rượu và bánh. Trong ngày này, ngoài bánh trôi như người Kinh thì Người Sán Dìu còn có khá nhiều loại bánh đặc sắc như: bánh “nép cóc phô” (gần giống như bánh xủi cảo, nhưng thay nhân thịt là nhân đỗ), bánh chấy (giống bánh trôi nhưng không có nhân và bao đường bên ngoài)...

Tết Thanh minh tuy là tết nhỏ, nhưng nó mang ý nghĩa lớn là sự báo hiếu đối với những người đã khuất trong dòng họ, là dịp biết ơn và ôn lại lai lịch của các thành viên, cũng là dịp để cao niên trong họ truyền lại cho con cháu đời sau ghi nhớ đến phần mộ của ông bà, tổ tiên. Đây cũng là nét đẹp mang bản sắc của người Sán Dìu cần được gìn giữ và lưu truyền cho muôn đời sau.